Việt Nam thông tin khái quát

VIỆT NAM THÔNG TIN KHÁI QUÁT
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

Việt Nam thông tin khái quát tiếp nối bài Thông tin nhanh về Việt Nam thuộc nội dung VIỆT NAM HỌC Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học: người Việt, tiếng Việt, nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế, xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích tập tài liệu này nhằm đúc kết kiến thức nền Việt Nam Học, giúp việc tìm hiểu đất nước con người Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Nguyễn Trãi, 1428) với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp.Việt Nam thông tin khái quát được đúc kết cập nhật theo Wikipedia tiếng Việt và các nguồn trích dẫn chính thực có liên quan tới ngày 30 tháng 6 năm.2021. Thông tin nhanh về Việt Nam và một số bài đọc thêm có liên quanc lưu ở cuối trang này

*

Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm Đối với các định nghĩa khác, xem Việt Nam (định hướng)các tên gọi của nước Việt Nam.

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc kỳ Quốc huy
Tiêu ngữ“Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”
Quốc ca
Tiến quân ca
Trình đơn0:00
Tổng quan
hiện trái đấthiện bản đồ ASEANXem tất cảVị trí của Việt Nam (lục)ở ASEAN (lục)  –  [Chú giải]
Thủ đôHà Nội
21°01′42″B 105°51′15″ĐTọa độ: 21°01′42″B 105°51′15″Đ
Thành phố lớn nhấtThành phố Hồ Chí Minh
Ngôn ngữ quốc gia[a]Tiếng Việt
Sắc tộc85,32% Người Kinh[a][1] 53 dân tộc thiểu số[hiện]
Tôn giáo chính86,32% Tín ngưỡng
hoặc Không tôn giáo7,1% Kitô giáo4,79% Phật giáo1,02% Hòa Hảo giáo0,58% Đạo Cao Đài0,19% tôn giáo khác[2]
Tên dân cưNgười Việt
Chính trị
Chính phủNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đơn đảng
• Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnNguyễn Phú Trọng
• Chủ tịch nướcNguyễn Xuân Phúc
• Thủ tướngPhạm Minh Chính
• Chủ tịch Quốc hộiVương Đình Huệ
• Chánh án Toà án tối caoNguyễn Hòa Bình
Lập phápQuốc hội Việt Nam
Lịch sử
Thành lập
• Tuyên bố độc lập2 tháng 9 năm 1945
• Hiến pháp đầu tiên9 tháng 11 năm 1946
•  Chia cắt hai miền21 tháng 7 năm 1954
• Hiệp định Paris27 tháng 1 năm 1973
• Sài Gòn sụp đổ30 tháng 4 năm 1975
• Tái thống nhất2 tháng 7 năm 1976
• Gia nhập Liên Hợp Quốc20 tháng 9 năm 1977
• Cải cách và mở cửa18 tháng 12 năm 1986
• Hiến pháp hiện hành28 tháng 11 năm 2013
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng331,212 km2[4] (hạng 68)
128 mi2
• Mặt nước (%)6,4[5]
• Đất liền331.212 km2
127.882 mi2
Dân số 
• Ước lượng 202198.096.517 (6-2021) (hạng 15)
• Mật độ290/km2
806/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2020
• Tổng số1.047.3 tỷ USD[6] (hạng 23)
• Bình quân đầu người10.755 USD[6] (hạng 106)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2020
• Tổng số340.6 tỷ USD[6] (hạng 37)
• Bình quân đầu người3.498 USD[6] (hạng 115)
Đơn vị tiền tệĐồng (₫) (VND)
Thông tin khác
Gini? (2018)Giảm theo hướng tích cực 35,7[7]
trung bình
HDI? (2019)Tăng 0,704[8]
cao · hạng 117
Múi giờUTC+07:00 (Giờ Đông Dương)
Cách ghi ngày thángdd.mm.yyyy
Điện thương dụng220 V – 60 Hz
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+84
Mã ISO 3166VN
Tên miền Internet.vn
^ Theo tên chính thức và Hiến pháp 2013.^ Dân tộc Kinh còn gọi là Việt.

Việt Nam, tên gọi chính thức là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là quốc gia nằm ở cực Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, giáp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, Biển Đôngvịnh Thái Lan. Quốc gia này có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan qua vịnh Thái Lan và với Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia qua Biển Đông.

Việt Nam có diện tích 331.212 km², đường biên giới trên đất liền dài 4.639 km, đường bờ biển trải dài 3.260 km, dân số ước tính vào khoảng 98 triệu người[9] với 54 dân tộc trong đó người Kinh chiếm đa số. Thủ đô của Việt Nam là thành phố Hà Nội, thành phố đông dân cũng như có quy mô GRDP lớn nhấtThành phố Hồ Chí Minh (ngày nay vẫn thường được gọi phổ biến với tên cũ là Sài Gòn).[10] Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai thực thể địa lý tranh chấp trên Biển Đông là các quần đảo Hoàng Sa (nhưng không kiểm soát trên thực tế) và Trường Sa (kiểm soát một phần).

Các nghiên cứu và bằng chứng khai quật khảo cổ học cho thấy rằng lãnh thổ Việt Nam đã có xuất hiện con người sinh sống sớm nhất từ thời đại đồ đá cũ. Lịch sử Việt Nam cổ đại bắt đầu với nhà nước Văn Lang và tiếp đó là Âu Lạc, lấy trung tâm là trung duđồng bằng sông Hồng cùng các vùng ven biển lân cận. Âu Lạc bị nhà Triệu từ phương Bắc thôn tính vào đầu thế kỷ thứ 2 TCN, sau đó, Việt Nam trở thành một bộ phận của các triều đại phong kiến Trung Quốc trong hơn một thiên niên kỷ. Chế độ quân chủ độc lập được tái lập tại đây với vị vua Ngô Quyền – sau khi ông giành chiến thắng quyết định trước quân Nam Hán trong Trận Bạch Đằng (938). Sự kiện này mở đường cho các triều đại độc lập kế tiếp và trong suốt giai đoạn lịch sử trung đại, quốc gia này không chỉ giành chiến thắng trước các cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc mà còn dần được mở rộng về phía nam. Thời kỳ Bắc thuộc cuối cùng bắt đầu kể từ khi nhà Minh (Trung Quốc) đánh bại nhà Hồ năm 1407 và kết thúc vào năm 1427 sau chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn do vua Lê Lợi lãnh đạo.

Sang đến thời kỳ cận đại, nhà Nguyễn – triều đại phong kiến chuyên chế cuối cùng của Việt Nam suy yếu khiến cho quốc gia này bị Đế quốc Pháp đô hộ vào cuối thế kỷ 19. Trong giai đoạn này, lãnh thổ Việt Nam bị sáp nhập cùng với LàoCampuchia – hình thành Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Thời kỳ Pháp thuộc bị gián đoạn và quyền lực của người Pháp bị loại bỏ khi Đế quốc Nhật Bản tiến hành tấn công, xâm lược và chinh phục phần lớn các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Người Nhật thay thế Pháp thiết lập chính phủ bù nhìn bản địa nhưng chỉ kiểm soát được lãnh thổ Đông Dương nói chung cũng như Việt Nam nói riêng trong một khoảng thời gian ngắn. Sau khi Nhật Bản thua trận và đầu hàng Đồng Minh, chủ quyền Đông Dương được các cường quốc thắng trận tạo điều kiện cho Đế quốc Pháp thu hồi. Kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam tiếp tục trải qua nhiều biến động quân sựchính trịngoại giao với sự kiện can thiệp và giải giáp quân đội Nhật Bản của các lực lượng quân sự thuộc khối Đồng Minh bao gồm Anh, Pháp cùng Trung Hoa Dân Quốc. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập vào năm 1945, sau thành công của Cách mạng Tháng Tám. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chống lại Pháp và Quốc gia Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và giành chiến thắng. Sau năm 1954, quốc gia này bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự, lấy ranh giới là vĩ tuyến 17. Xung đột ngày càng gia tăng dẫn tới Chiến tranh Việt Nam, trong đó có sự can thiệp sâu rộng của quân đội Hoa Kỳ cùng các nước đồng minh hỗ trợ cho chính thể Việt Nam Cộng hoà/Quân lực Việt Nam Cộng hòa và cuối cùng kết thúc với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Cộng hòa Miền Nam Việt Nam/Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (với nòng cốt là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) vào năm 1975.

Giai đoạn sau khi miền Bắcmiền Nam Việt Nam được tái thống nhất trở thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa với một chính phủ đơn nhất vào năm 1976, Việt Nam tiếp tục bị cô lập, gặp khó khăn về kinh tế, chính trị, ngoại giao sau sự sụp đổtan rã của đồng minh Liên Xô cùng Khối phía Đông, các lệnh trừng phạt, cấm vận từ phía Hoa Kỳ[11], những xung đột tại Campuchia, biên giới giáp Trung Quốc và hậu quả của chính sách kinh tế bao cấp sau nhiều năm áp dụng, duy trì. Năm 1986, Đảng Cộng sản ban hành một loạt cải cách kinh tế và chính trị, qua đó chính thức mở cửa nền kinh tế, cơ bản chấm dứt, xoá bỏ bao cấp, tạo điều kiện cho Việt Nam hình thành kinh tế thị trường, hội nhập sâu rộng với thế giớinền kinh tế toàn cầu. Các cải cách đổi mới thành công kết hợp cùng quy mô dân số lớn đưa Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP cao, liên tục được xếp hạng trong nhóm các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới, được kỳ vọng sẽ trở thành ‘Hổ mới châu Á‘ trong tương lai gần.[12][13][14] Tuy nhiên, quốc gia này cũng đang phải đối mặt với những thách thức bao gồm: tham nhũng[15][16][17], tội phạm gia tăng[18][19][20], ô nhiễm môi trường[21][22], nghèo đói[23][24][25], phúc lợi xã hội không đầy đủ[26][27] cùng những chỉ trích của phương Tây về hồ sơ nhân quyền liên quan đến các vấn đề tôn giáo, kiểm duyệt truyền thông, hạn chế các nhóm ủng hộ nhân quyền và các quyền tự do dân sự.[28] Tính đến năm 2020, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia[29] và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó nổi bật như: Liên Hiệp Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Mục lục

Tên gọi

Nguồn gốc tên gọi trong tiếng Việt

Bài chi tiết: Các tên gọi của nước Việt Nam

Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có những quốc hiệu khác nhau như Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt, Đại Nam hay Việt Nam. Chữ “Việt” 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, từng được dùng trong các quốc hiệu Đại Cồ ViệtĐại Việt (là các quốc hiệu từ thế kỷ 10 tới đầu thế kỷ 19). Chữ “Nam” 南 đặt ở cuối thể hiện đây là vùng đất phía nam, là vị trí cương vực, từng được dùng cho quốc hiệu Đại Nam, và trước đó là một cách gọi phân biệt Đại Việt là Nam Quốc (như “Nam Quốc Sơn Hà“) với Bắc Quốc là Trung Hoa.

Nhà Thanh công nhận “Việt Nam” (chữ Hán: 越南) là quốc hiệu Nhà Nguyễn.[30] Đặt quốc hiệu là “Việt Nam” 越南 không nhầm với nước Nam Việt và thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm “Việt Nam quốc vương” 越南國王 mặc dù các vua Nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong “Hoàng đế” 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.[30][31]

Vua Gia Long nhà Nguyễn chính thức sử dụng quốc hiệu “Việt Nam” từ năm 1804.[32] Tên gọi này cũng xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905 và trong tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng.[33] Tên gọi “An Nam” cũng có trong thời Pháp thuộc. Năm 1945, Đế quốc Việt Nam ra đời và tiếp tục đặt quốc hiệu “Việt Nam”.[34] Sau đó tất cả những nhà nước ở Việt Nam sau năm 1945 đều sử dụng quốc hiệu này.

Tên gọi Việt Nam trong tiếng Anh

Trong tiếng Anh hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, sách báo, internet) của quốc gia khác trên thế giới (đặc biệt là các quốc gia có tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức như Anh, Mỹ, Úc) đều viết thông dụng là Vietnam cho danh từ (viết liền không dấu, là cách viết nối phổ biến cho một từ ghép) và Vietnamese cho tính từ, thì tại Việt Nam vẫn còn tồn tại hai cách viết là Viet Nam (bỏ dấu) và Việt Nam (để nguyên), do ảnh hưởng từ viết tiếng Việt dùng chữ Quốc ngữ. Điều này có thể nhận thấy trên website của Chính phủ Việt NamBộ Ngoại giao Việt Nam cho phiên bản tiếng Anh dùng cả 3 cách: Vietnam, Viet Nam hoặc Việt Nam.[35][36] Danh sách liệt kê thành viên trên website Liên Hiệp Quốc viết tên quốc gia này là Viet Nam trong khi các bài viết tiểu mục thì vẫn viết Vietnam. Trang web Oxford Learner’s Dictionaries của Nhà xuất bản Đại học Oxford (cũng là đơn vị biên soạn Từ điển tiếng Anh Oxford) chỉ ghi nhận cách viết Vietnam,[37][38] và tương tự như vậy thì hầu hết các ngôn ngữ đang dùng chữ viết chính là chữ Latin đều viết tên gọi Việt Nam ở dạng viết liền không dấu cách giống như cách viết Vietnam trong tiếng Anh.[39][b]

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Việt Nam

Khoảng cách giữa cực Bắc và cực Nam của Việt Nam theo đường chim bay là 1.650 km. Nơi có chiều ngang hẹp nhất ở Quảng Bình với chưa đầy 50 km. Đường biên giới đất liền dài hơn 4.600 km, trong đó, biên giới với Lào dài nhất (gần 2.100 km), tiếp đến là Trung QuốcCampuchia. Tổng diện tích là 331.212 km² gồm toàn bộ phần đất liền và hải đảo[40] cùng hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm và cả hai quần đảo trên Biển ĐôngTrường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hoà) và Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) mà nhà nước tuyên bố chủ quyền.

Địa hình Việt Nam có núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40% và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có các dãy núi và cao nguyên như dãy Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Sơn La ở phía bắc, dãy Bạch Mã và các cao nguyên theo dãy Trường Sơn ở phía nam. Mạng lưới sông, hồvùng đồng bằng châu thổ hoặc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm khoảng 1/4 diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển miền Trung, là vùng tập trung dân cư. Đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Đất chủ yếu là đất ferralit vùng đồi núi (ở Tây Nguyên hình thành trên đá bazan) và đất phù sa đồng bằng. Ven biển đồng bằng sông Hồngsông Cửu Long tập trung đất phèn. Rừng ở Việt Nam chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới khu vực đồi núi còn vùng đất thấp ven biển có rừng ngập mặn. Đất liền có các mỏ khoáng sản như phốt phát, vàng. Than đá có nhiều nhất ở Quảng Ninh. SắtThái Nguyên, Hà Tĩnh. Ở biển có các mỏ dầukhí tự nhiên.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết có sự biến động. Phía bắc dãy Bạch Mã có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc lạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh; gió Tây Nam nóng khô và Đông Nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió Đông Bắc vào mùa khô và gió Tây Nam vào mùa mưa. Các dòng biển phần nào đó điều hòa khí hậu. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Việt Nam trải qua các đợt lụt và bão, có lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (19642014).[41]

Sinh thái

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005, Việt Nam nằm trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao, xếp thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học và là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu. Ngoài ra còn có 1.438 loài tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài tảo, cũng như 794 loài thủy sinh không xương sống và 2,458 loài cá biển. Cuối những năm 1980, một quần thể Tê giác Java đã bị phát hiện ở Vườn Quốc gia Cát Tiên và có thể cá thể cuối cùng của loài này ở Việt Nam đã chết vào năm 2010.

Ngân hàng gen quốc gia Việt Nam bảo tồn 12.300 giống của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 497 triệu đô la Mỹ để duy trì đa dạng sinh học trong năm 2004 và đã thiết lập 126 khu bảo tồn trong đó có 28 vườn quốc gia. Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giớiVịnh Hạ LongVườn quốc gia Phong Nha ‒ Kẻ Bàng cùng 6 khu dự trữ sinh quyển bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng và Tây Nghệ An.

Hành chính

Bài chi tiết: Phân cấp hành chính Việt Nam, Tỉnh (Việt Nam), và Danh sách các đơn vị hành chính tại Việt Nam

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Tổng cộng có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương gồm 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương (*) với thủ đô là Hà Nội.

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xãthành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện). Tính đến tháng 1 năm 2021, Việt Nam có 705 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh/thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Bài chi tiết: Đơn vị hành chính cấp huyện (Việt Nam)

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, , thị trấn (gọi chung là cấp xã).

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực không chính thức với tên gọi khác nhau như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Việt Nam

Trống đồng Đông Sơn.

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng thời đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử bị phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh BìnhQuảng Bình.[42] Ngoài ra, tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng đánh cá.[42]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000 đến 6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa có từ cao nguyên tới đồng bằng.[42] Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ theo kiểu khác và làm đồ gốm với kỹ thuật khác.[42] Đến khoảng thiên niên kỷ I TCN vào cuối thời kỳ đồ đồng, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn[43] rồi cùng thời gian đó, những nhà nước đầu tiên lần lượt xuất hiện đó là Văn LangÂu Lạc.[44]

Thay đổi lãnh thổ từ triều Lý năm 1009 đến hết triều Nguyễn năm 1945 cùng cuộc Nam tiến (10691757).

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến từ phương Bắc cai trị một phần Việt Nam hơn 1000 năm.[45] Sự cai trị này bị ngắt quãng bởi những cuộc khởi nghĩa của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan, Hai Bà Trưng hay Lý Bí. Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, không phải là độc lập vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc.[46] Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán,[47] Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu một nhà nước độc lập khỏi các triều đình phương Bắc vào năm 939.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáoĐạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tống và nhà Mông – Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập (năm 1428). Có quan điểm cho rằng đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt “đỉnh cao” đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (14601497).[48]

Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan lại trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê trung hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa TrịnhChúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây chiến tranh kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoàiđàng Trong trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa TrịnhChúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của XiêmThanh để lập Nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh – một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ PhápXiêm lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam.[49] Thời phong kiến, các triều , Trần, Hậu Lêchúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân LạpTây Nguyên ở phía Nam.[50]

Lễ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại quảng trường Ba Đình năm 1945.

Nhà Đấu xảo Hà Nội năm 1902.

Phương Tây tiếp cận Việt Nam từ thế kỷ XVI. Vào thế kỷ XVII, Đàng TrongĐàng Ngoài trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào NhaHà Lan,[51] sau thêm AnhPháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ[52] đến truyền bá Công giáo từ năm 1615 rồi Hội Thừa sai ParisDòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong 2 thế kỷ tiên khởi XVIIXVIII.[53] Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phương Tây được tăng cường truyền bá.[54]

Thế chiến thứ 2, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng nên Đế quốc Việt Nam, chính thể không thực quyền phải nộp thuế và cung ứng Nhật tài nguyên có lúa gạo, góp phần gây nạn đói Ất Dậu. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền, đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.[55] Pháp tính lấy lại Đông Dương, nhưng vấp phải sự phản kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đã buộc phải hậu thuẫn lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.[56]

Năm 1954, Chiến tranh Đông Dương kết thúc, Pháp phải công nhận sự độc lập của Việt Nam và rút quân, xuất hiện 2 vùng tập kết quân sự chờ cuộc bầu cử thống nhất đất nước[57] nhưng không thành do Hoa Kỳ hậu thuẫn cho Việt Nam Cộng hòa (chính phủ kế thừa Quốc gia Việt Nam) từ chối tổ chức bầu cử.[58] Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn các lực lượng miền Nam nổi dậy chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, gây ra xung đột quân sự mà tiếp theo đó là sự tham chiến của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh.[59] Chiến tranh kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.[60]

Năm 1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tuyển cử hợp nhất. Do hậu quả chiến tranh, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam, chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, nước Việt Nam thời hậu chiến phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng trong lĩnh vực kinh tếxã hội.[61] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng mới.[62] Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 và gia nhập ASEAN vào cùng năm. Năm 2007, Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Việt Nam Xem thêm: Nhân quyền tại Việt NamDân chủ tại Việt Nam

Nguyễn Phú Trọng

Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng

Nguyễn Xuân Phúc

Chủ tịch nước
Nguyễn Xuân Phúc

Phạm Minh Chính

Thủ tướng
Phạm Minh Chính

Vương Đình Huệ

Chủ tịch Quốc hội
Vương Đình Huệ

Việt Nam theo chế độ xã hội chủ nghĩa với cơ chế có duy nhất một đảng chính trị lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào năm 2016, các đại biểuĐảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%,[63] những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là Đảng viên và do Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị đề cử.

Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu bởi Tổng Bí thư, người lãnh đạo trên thực tế và lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam, cam kết với các nguyên tắc của Lênin “tập trung dân chủ” và không cho phép đa đảng.[64]

Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm, đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, theo Hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Duy nhất Quốc hội có quyền lập hiến, lập pháp với nhiệm vụ giám sát, quyết định những chính sách cơ bản, những nguyên tắc của bộ máy Nhà nước và quan hệ xã hội công dân. Quốc hội không độc lập và tuân thủ đa số các quy định từ Đảng nhưng sau Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn.

Nhà Quốc hội (thay thế cho Hội trường Ba Đình)

Chủ tịch nướcnguyên thủ quốc gia, có các quyền trong đó: Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; Tổng Tư lệnh vũ trang; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Thủ tướng, Chánh án tối cao, Kiểm sát tưởng tối cao,…; thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại.

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Việc tổ chức nhân sự chính phủ đều thông qua Bộ Chính trị quản lý.

Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử. Ngoài ra, Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề an ninh quốc gia.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giữ quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cao nhất Việt Nam.

Quân sự

Bài chi tiết: Quân đội Nhân dân Việt Nam

Lính danh dự Việt Nam diễu binh trước Trung tâm Hội nghị Quốc gia trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 2010 tại Hà Nội.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt NamDân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam, chia thành:

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự và dân quân tự vệ, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2010, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 2,48 tỷ USD, tương đương khoảng 2,5% GDP năm 2010.

Ngoại giao

Bài chi tiết: Quan hệ ngoại giao của Việt Nam

Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới.
  Việt Nam  Quan hệ ngoại giao chính thức  Quan hệ ngoại giao không chính thức   Không quan hệ ngoại giao

Theo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước phấn đấu vì hòa bình, độc lậpphát triển“.

Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, sau đổi mới, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995. Hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 14 nước châu Đại Dương, 30 nước châu Mỹ và 55 nước châu Phi).[65] Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ.[66] Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPAUPU. Việt Nam từng tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN (1998, 2010), ASEM (2004), Thượng đỉnh APEC (2006, 2017), Cộng đồng Pháp ngữ (1997), Hội nghị Thượng đỉnh Triều Tiên-Hoa Kỳ lần 2 (2019). Việt Nam cũng từng làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008200920202021, thành viên của ECOSOC nhiệm kỳ 20162018,[67] Chủ tịch luân phiên ASEAN (2010, 2020).

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Việt Nam

1 góc Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) – trung tâm kinh tế.

Gạo – mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

Chính sách Đổi mới năm 1986 đã thiết lập mô hình “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Các thành phần kinh tế được mở rộng hơn nhưng những ngành kinh tế chủ lực, thiết yếu vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Từ năm 1993 đến 1997, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm khoảng 9%. Tăng trưởng GDP đạt mức 8,5% vào năm 1997 nhưng giảm xuống 4% năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và tăng nhẹ lên mức 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng lên từ 6% đến 7% trong giai đoạn giữa những năm 2000 và 2002. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập WTO sau khi kết thúc đàm phán song phương với các nước có yêu cầu và chính thức là thành viên thứ 150 vào ngày 11 tháng 1 năm 2007.[68] Sau cải cách kinh tế – xã hội, theo một số nghiên cứu, bất bình đẳng thu nhập đã gia tăng.[69][70][71]

Năm 2013, tại một hội thảo ở Hà Nội, các chuyên gia nhận định nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng chậm lại sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007–2011, chỉ có năm 2008 là Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8% dù xuất khẩu tăng 2,4 lần – lên mức 96,9 tỷ USD. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối các doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60%, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông – lâm sản và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng, lên mức 18 tỷ USD vào năm 2008. Đến năm 2013, do ảnh hưởng bởi Đại suy thoái, nền kinh tế đối mặt với áp lực lớn từ nợ xấu, lạm phát cùng nợ công tăng mạnh.[72] Tình trạng tham nhũng luôn xếp ở mức cao trên trung bình của thế giới[73][74] và đồng thời, các vấn đề liên quan đến vốn, đào tạo lao động, quy hoạch đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng,… cùng hàng chục ngàn thủ tục kinh doanh lỗi thời từ 20 năm trước vẫn còn đang tồn tại.

Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới, PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 70% so với Philipines, 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và bằng 6,7% so với Singapore.[75]

Năm 2020, theo công bố của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quy mô nền kinh tế Việt Nam với 98 triệu dân[9] theo GDP danh nghĩa đạt 340,6 tỷ đô la Mỹ, xếp hạng 37 thế giới[76], sức mua tương đương đạt 1,047 tỷ đô la Mỹ, xếp hạng 23 toàn cầu[77], GDP bình quân đầu người theo danh nghĩa là 3,498 USD/người, xếp hạng 115 thế giới[78], còn theo sức mua là 10,755 USD/người, xếp hạng 106 toàn cầu.[79] Mức độ tự do kinh tế vẫn chỉ ở nhóm trung bình với hạng 90 toàn cầu.[80]

Về địa lý kinh tế, chính phủ Việt Nam phân chia quy hoạch thành các vùng kinh tế – xã hội và các khu vực kinh tế trọng điểm mỗi miền. Các tỉnh có GRDP bình quân đầu người cao nhất: Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội,… và GRDP bình quân đầu người thấp nhất: Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng,…

Giao thông

Bài chi tiết: Hệ thống giao thông Việt Nam

Quốc lộ 1A đoạn qua thành phố Thủ Đức, TP.HCM.

Các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắcnam. Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ… Có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều trải nhựa và bê tông hóa, thiểu số các tuyến đường huyện lộ đang còn là các con đường đất. Hệ thống đường sắt Việt Nam dài tổng 2652 km trong đó tuyến Đường sắt Bắc Nam dài 1726 km.

Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đôngtây dựa theo các con sông như sông Đà, sông Hồng, sông Sài Gòn. Dự kiến quy hoạch tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Quảng Ninh tới cửa khẩu Hà Tiên, Kiên Giang dài khoảng 3.041 km. Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển như Hải Phòng, Quy Nhơn, Sài Gòn.

Truyền thông

Bài chi tiết: Truyền thông Việt Nam, Internet tại Việt Nam, và Báo chí Việt Nam Xem thêm: Kiểm duyệt Internet ở Việt Nam

Logo Đài Truyền hình Việt Nam

Truyền thông Việt Nam có bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay, hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời. Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 858 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 65 đài phát thanh – truyền hình, gồm 2 đài phát thanh – truyền hình trung ương (VTV, VOV) và 63 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.[81]

Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Luật pháp chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.

Du lịch

Bài chi tiết: Du lịch Việt Nam

Một góc vịnh Hạ LongDi sản thiên nhiên thế giới.

Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh nhất trong vòng 10 năm từ 2000–2010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam và năm 2017, có hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa KỳĐài Loan.[82]

Việt Nam có các điểm du lịch từ Bắc đến Nam, từ miền núi tới đồng bằng, từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử. Các điểm du lịch miền núi như Sa Pa, Bà Nà, Đà Lạt. Các điểm du lịch ở các bãi biển như Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu và các đảo như Cát Bà, Côn Đảo, Lí Sơn.

Khoa học

Năm 2010, tổng chi tiêu của Nhà nước vào khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP. Theo UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP để nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Chiến lược tìm cách thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế lớn hơn, với kế hoạch thiết lập mạng lưới các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và khởi xướng một mạng lưới kết nối các tổ chức khoa học quốc gia với các đối tác nước ngoài.

1 bộ chiến lược phát triển quốc gia cho các lĩnh vực trong kinh tế, chủ yếu liên quan đến khoa học công nghệ. Ví dụ là Chiến lược phát triển bền vững (2012) và Chiến lược phát triển ngành cơ khí (2006) cùng với Tầm nhìn 2020 (2006). Kêu gọi nhân lực có tay nghề, đầu tư nâng cấp công nghệ khu vực tư nhân. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011–2020 năm 2012 lập kế hoạch ưu tiên nghiên cứu toán, vật lý; điều tra khí hậu, thiên tai; phát triển hệ điều hành điện tử; công nghệ sinh học áp dụng đặc biệt cho nông, lâm nghiệp, y học và môi trường.

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Việt Nam

Dân số

Tỉ lệ tăng dân số Việt Nam giai đoạn 1980 – 2014. Bài chi tiết: Dân tộc Việt NamThông tin nhân khẩu học Việt Nam

Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%) và dân số nữ là 48.327.923 người (chiếm 50,2%). Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới.[83]

Việt Nam có 54 dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổđồng bằng ven biển. Các dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số này, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường,… người Ơ Đu có số dân ít nhất. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa. Người Hoangười Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm giai đoạn 1999 – 2009.

Theo điều tra của Tổng cục thống kê thì vùng đông dân nhất Việt Nam là đồng bằng sông Hồng với khoảng 22,5 triệu người, kế tiếp là bắc Trung bộduyên hải nam Trung bộ với khoảng 20,1 triệu người, thứ 3 là Đông Nam bộ với 17,8 triệu người, thứ 4 là đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,2 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,8 triệu người. Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2019 thì 34,4% dân số Việt Nam đang sinh sống tại thành thị và 65,6% cư trú ở nông thôn.[84] Về tỉ số giới tính trung bình vào năm 2019 là 99,1 nam/100 nữ. Theo nhận xét của tờ The Economist, mức độ giảm dân số do sinh suất tụt giảm tạo ra viễn cảnh lão hóa ở Việt Nam với tỉ lệ người cao niên hơn 60 tuổi dự đoán sẽ tăng từ 12% (2018) lên 21% (2040). Đỉnh dân số lao động của Việt Nam là vào năm 2013, sau đó sẽ giảm. Tỉ lệ trẻ/già bị cho là gây chao đảo về tài chính để cung cấp dịch vụ y tế và cấp dưỡng khi 90% người cao niên không có khoản tiết kiệm nào cả khi ngân sách nhà nước chỉ phụ cấp cho người hơn 80 tuổi với bình quân vài USD/tuần.[85][86]

Ngôn ngữ

Thư pháp chữ Quốc ngữ.

Thư pháp chữ Hán và chữ Nôm

Ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam là tiếng Việt, một ngôn ngữ thanh điệu thuộc ngữ hệ Nam Á và là tiếng mẹ đẻ của người Việt. Hiến pháp không quy định chữ viết quốc gia hay văn tự chính thức. Văn ngôn với chữ Hán ghi âm Hán-Việt được dùng trong các văn bản hành chính trước thế kỷ 20. Chữ Nôm dựa trên chất liệu chữ Hán để ghi âm thuần Việt hình thành từ khoảng thế kỷ 7 tới thế kỷ 13,[87][88][89] kết hợp với chữ Hán thành bộ chữ viết phổ thông cho tiếng Việt trước khi Việt Nam bị Thực dân Pháp xâm lược. Các tác phẩm thời kỳ trung đại của Việt Nam đều được ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm, tiêu biểu có Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán hay Truyện Kiều của Nguyễn Du sáng tác bằng chữ Nôm.[90] Chữ Quốc ngữchữ Latinh được các nhà truyền giáo Dòng Tên như Francisco de PinaAlexandre de Rhodes phát triển vào thế kỷ 17 dựa trên bảng chữ cái của tiếng Bồ Đào Nha, sau này được phổ biến thông qua các quy định bảo hộ cùng tiếng Pháp của chính quyền thuộc địa thời Pháp thuộc.[87][91] Các nhóm sắc tộc thiểu số ở Việt Nam nói một số ngôn ngữ ví dụ như tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Mường, tiếng H’Mông, tiếng Chăm, và tiếng Khmer. Các hệ ngôn ngữ ở Việt Nam bao gồm Nam Á, Kra-Dai, Hán-Tạng, H’Mông-MiềnNam Đảo. Một số ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam cũng được hình thành tại các thành phố lớn.

Việt Nam tuy là thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ, nhưng tiếng Pháp từ vị thế ngôn ngữ chính thức của chế độ thuộc địa đã suy yếu nhanh chóng và nhường chỗ cho tiếng Anh làm ngoại ngữ chính. Với mối quan hệ với các nước phương Tây đã thay đổi và những cải cách trong quản trị về kinh tế và giáo dục, tiếng Anh có thể sử dụng như ngôn ngữ thứ hai và việc học tiếng Anh giờ đây bắt buộc tại hầu hết các trường học bên cạnh hoặc thay thế cho tiếng Pháp.[92][93] Tiếng Nga, tiếng Đức được giảng dạy trong một số ít trường trung học phổ thông.[94] Tiếng Nhật, tiếng Trungtiếng Hàn cũng trở nên thông dụng hơn khi mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Á được tăng cường.[95][96][97]

Tôn giáo

Bài chi tiết: Tôn giáo tại Việt NamTự do tôn giáo ở Việt Nam

Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh.

Tôn giáo tại Việt Nam (2019)[2] Không tôn giáo, có thể tín ngưỡng dân gian (86.32%)  Công giáo (6.10%)  Tin Lành (1.00%)  Phật giáo (4.79%)  Hòa Hảo (1.02%)  Cao Đài (0.58%)  Khác (0.19%)

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáotín ngưỡng. Đa số người Việt Nam không thuộc tổ chức tôn giáo nào nhưng đồng thời nhiều người trong số họ thực hành tín ngưỡng dân gian. Phật giáo du nhập vào cùng với Nho giáoĐạo giáo (gọi chung là tam giáo) có ảnh hưởng tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng có vị thế như quốc giáo thời Nhà LýNhà Trần. Nho giáo đạt vị trí độc tôn dưới thời Lê sơ và Nguyễn sơ.[98] Một số tư tưởng Nho giáo cho tới nay vẫn giữ vai trò nhất định trong trật tự xã hội Việt Nam. Công giáo truyền vào từ thế kỷ 16; nền tảng của Công giáo Việt Nam được thiết lập vững chắc vào thế kỷ 17 bởi các thừa sai Dòng Tên Bồ Đào NhaÝ.[99] Tin Lành truyền giảng tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 bởi Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp. Ấn Độ giáo và sau này Hồi giáo truyền vào Chăm Pa. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đàiđạo Hòa Hảo.

Tội phạm

Bài chi tiết: Tội phạm có tổ chức tại Việt Nam

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức thấp hơn một số quốc gia phát triển.[100] Năm Cam, Khánh Trắng là một số ví dụ về băng nhóm tội phạm có tổ chức.

Việt Nam là địa điểm có các đầu dây mại dâm, ma túy.[101] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy như Tam giác vàng và Trăng lưỡi liềm vàng. Theo một số quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp.[101] Việt Nam tham gia các hội nghị quốc tế bàn thảo vấn đề trên như “Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông” do mình chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lân cận. Năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[101] Theo sự phát triển của kinh tế – xã hội, tội phạm có xu hướng tăng. Các vấn đề liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá.[102] một loại hình tội phạm khác đó là tham nhũng với một số vụ án như PMU 18, Vinashin. Việt Nam hiện vẫn duy trì án tử hình.

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục Việt Nam

Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng từ 10,89% năm 2005 lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[103]

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trực thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM.

Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường đại học chủ yếu tập trung ở Hà NộiTP. Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[104] Có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước.[105][106]

Với bậc đại học, Việt Nam có tổng 376 trường cao đẳng, đại học trên cả nước trong đó Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý 54 trường. 3 cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long, trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam và đến năm 2017, toàn Việt Nam có 84 trường dân lập, tư thục.[107] Tổng số sinh viên bậc đại học đến năm học 2016–2017 là 1.767.879 người.[108]

Y tế

Bài chi tiết: Ngành dược Việt Nam

Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010, toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[109] với khoảng 246.300 giường bệnh.[110] Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện nhà nước.[111] Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.[112]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩdược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại.[111]

Một số tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và một số Tổ chức phi chính phủ (NGO) đã hỗ trợ cho Ngành Y tế của Việt Nam, tính đến năm 2010, Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn một tỷ USD, các dự án phân bố ở các vùng miền.[113] Y tế Việt Nam có tham nhũng ở một số cấp độ, có thể tìm thấy trong cả 3 lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế.[114]

Thống kê năm 2016, người Việt có tuổi thọ trung bình 75,6 tuổi, đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Singapore.[115]

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Việt Nam

Múa rối nước – một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian.

Việt Nam có nền văn hóa đa dạng: từ vùng đồng bằng sông Hồng và vùng ThanhNghệ với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây BắcĐông Bắc, đến nền văn hóa Chăm Pa của người Chăm tại Nam Trung Bộ, các bộ tộc Tây Nguyên, cùng vùng đất mới Nam Bộ kết hợp với văn hóa các sắc tộc Hoa, Khmer.

Về khía cạnh truyền thống, văn hóa chủ lưu của người Việt được coi là thuộc vùng văn hóa Đông Á (cùng với Trung Quốc, Triều TiênNhật Bản). Với lịch sử hàng nghìn năm, từ văn hóa bản địa thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.

54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong ngôn ngữ của văn học, nghệ thuật.

Âm nhạc

Bài chi tiết: Âm nhạc Việt Nam

Nghệ thuật ca trù

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng miền của Việt Nam. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, Triều Tiên, Mông CổNhật Bản. Nhã nhạc là hình thức ca nhạc cung đình. Ca trù là một loại hình diễn xướng âm nhạc giàu chất liệu thi ca. Chèo, tuồng, cải lương là hình thức sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm là một loại nhạc dân gian. Quan họ có ở Bắc NinhBắc Giang. Chầu văn là hình thức ca nhạc hầu đồng. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. UNESCO công nhận nhã nhạc Huế, ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử Nam Bộ, ví giặm Nghệ Tĩnh, bài chòi, cồng chiêng Tây Nguyên, hát then là những di sản văn hóa phi vật thể. Các nhạc cụ truyền thống có thể kể đến đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt, đàn đá, trống, phách, v.v.

Thế kỷ 20 xuất hiện các thể loại tân nhạc Việt Nam. Thời Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) phổ biến nhạc đỏ, trong khi nhạc vàng phát triển tại miền Nam (Việt Nam Cộng hòa). Âm nhạc hiện đại có tên gọi V-pop là thể loại ca nhạc tiếng Việt rất phổ biến trên các phương tiện truyền thông ngày nay, với các ca sĩ như Đàm Vĩnh Hưng, Đông Nhi, Sơn Tùng M-TP, Min, Mỹ Tâm hay các diva như Thanh Lam, Hồng Nhung, Trần Thu HàMỹ Linh.

Trang phục

Bài chi tiết: Trang phục Việt Nam

Áo dài, một trang phục truyền thống.

Áo dài là trang phục truyền thống phổ biến ở Việt Nam, thường được nữ giới mặc trong những dịp như đám cướilễ hội. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh trung học ở một số trường trung học phổ thông tại Việt Nam, ít nhất là phải mặc trong tiết Chào cờ. một số ví dụ khác về trang phục tại Việt Nam bao gồm áo giao lĩnh, áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm, áo Nhật Bình,… Mũ nón bao gồm nón lánón quai thao. Các trang phục của người dân tộc thiểu số cũng có thể sử dụng.

Ẩm thực

Bài chi tiết: Ẩm thực Việt Nam

Có sự kết hợp của 5 yếu tố cơ bản: cay, chua, đắng, mặn và ngọt. Nước mắm, nước tương,… là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu trong món ăn. Nấu ăn của Việt Nam có thể có các nguyên liệu tươi hơn, dùng dầu ít hơn và phụ thuộc hơn vào rau thơm, rau quả. Có thể có một đặc điểm phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống có thể có ít hơn những món cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ như ẩm thực Nhật Bản mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn (ví dụ chân cánh gà, phủ tạng động vật, trứng vịt lộn…).

Thể thao

Xem thêm: Việt Nam tại Thế vận hộiViệt Nam tại Đại hội Thể thao châu Á

Các môn thể thao truyền thống Việt Nam có đấu vật, võ thuật, đá cầu, cờ tướng… Ở một số khu vực tập trung người dân tộc thiểu số có bắn nỏ, đẩy gậy. Một số môn thể thao khác cũng phổ biến không kém, có thể kể đến như: bóng đá, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, billiards, cờ vua,…. Bóng đá là môn thể thao được người Việt Nam quan tâm và theo dõi nhiều nhất, nhưng chỉ xung quanh Đội tuyển Quốc giaĐội tuyển U-23, còn bóng đá cấp câu lạc bộ lại không có được nhiều sự thu hút với người dân, đặc biệt là với người dân tại địa phương không có đội bóng chuyên nghiệp.

Thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay và đã có huy chương vàng đầu tiên vào năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng. Ở Olympic người khuyết tật, Việt Nam tham gia từ năm 2000 và cũng có huy chương vàng đầu tiên do lực sĩ Lê Văn Công ở môn cử tạ đạt được vào năm 2018.[116] Do là nước nhiệt đới, Việt Nam không phát triển các môn thể thao mùa đông (như trượt băng), cũng như chưa từng tham gia Olympic mùa đông.

Ngày lễ

Bài chi tiết: Các ngày lễ ở Việt Nam

Ngày thángSố ngàyTên
1 tháng 11Tết Dương Lịch
30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 1 (âm lịch)5-15Tết Nguyên Đán
10 tháng 3 (âm lịch)1Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
30 tháng 4Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
1 tháng 5Ngày Quốc tế Lao động
2 tháng 92Ngày Quốc khánh

Ghi chú

  1. ^ Hiến pháp Việt Nam 2013, điều 5.3[3]
  2. ^ Việc tên quốc gia trong tiếng Anh hay ngôn ngữ khác không giống với tên trong tiếng bản địa dù cùng dùng chữ Latin là điều thường thấy. Ví dụ như tiếng Đan Mạch viết tên của Đan Mạch là “Danmark” còn tiếng Anh viết là “Denmark”, tiếng Malay bản địa viết tên của Singapore là “Singapura” còn tiếng Anh viết là “Singapore”. Ngược lại ngay trong chính tiếng Việt, “England” thường được viết thông dụng là “Anh”. Vì vậy “Vietnam” không phải là cách viết sai, nó đã được ghi nhận trong các từ điển và trở thành cách viết thông dụng nhất dành cho Việt Nam trong tiếng Anh.

Chú thích

  1. ^ “Dân tộc Kinh” (bằng tiếng Việt). Đảng Cộng sản Việt Nam. 15 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 2 năm 2016. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  2. ^ a ă “”Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019″”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2021.
  3. ^ “CHƯƠNG I – CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ – HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập Ngày 10 tháng 9 năm 2019. no-break space character trong |title= tại ký tự số 18 (trợ giúp)
  4. ^ Bộ Ngoại giao. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2012. Truy cập 19 tháng 3 năm 2012.
  5. ^ “Vietnam Geography Profile 2018” Lưu trữ 2019-01-19 tại Wayback Machine. Index Mundi. 12 tháng 7 năm 2011.
  6. ^ a ă â b “Report for Selected Countries and Subjects: Vietnam”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  7. ^ World Bank 2018c.
  8. ^ “Human Development Report 2020” (PDF). United Nations Development Programme. 2020. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2021.
  9. ^ a ă “Dân số Việt Nam”. danso.org. 22 tháng 3 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2019.
  10. ^ Một số thông tin cơ bản về Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam. tr. 25.
  11. ^ TTXVN (29 tháng 1 năm 2019). “25 năm ngày Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam”. vnanet.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021.
  12. ^ Hải Đăng (25 tháng 1 năm 2019). “Việt Nam có thành con hổ châu Á mới?”. khoahocphattrien.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
  13. ^ Sputnik News (30 tháng 6 năm 2020). “Con hổ mới của châu Á: Việt Nam được kỳ vọng là nền kinh tế lớn thứ 20 thế giới năm 2050?”. vn.sputniknews.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
  14. ^ Chu An (28 tháng 7 năm 2020). “25 năm Việt Nam gia nhập ASEAN: Từ thoát nghèo đến ‘con hổ’ mới của châu Á”. baoquocte.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
  15. ^ Lê Văn HLân (11 tháng 9 năm 2012). “’Tham nhũng ở Việt Nam vừa tinh vi vừa trắng trợn’”. vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2021.
  16. ^ Truth & Transparency Foundation. “CORRUPTION PERCEPTIONS INDEX 2020: Vietnam”. http://www.transparency.org. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  17. ^ “Tham nhũng ở Việt Nam: Dân còn khổ, sao nhiều cán bộ giàu thế?”. vn.sputniknews.com. 26 tháng 12 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  18. ^ Quỳnh Hoa (TTXVN) (9 tháng 12 năm 2019). “Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm: Tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật vẫn diễn biến phức tạp”. hanoimoi.com.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  19. ^ Nguyễn Nho (7 tháng 2 năm 2020). “Năm 2019, tội phạm giết người có chiều hướng gia tăng”. kiemsat.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  20. ^ TTXVN (9 tháng 4 năm 2018). “Tình hình tội phạm vẫn ở mức độ nghiêm trọng, bạo lực gia tăng”. tuyengiao.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  21. ^ Cẩm Hà (28 tháng 10 năm 2020). “Sống chung với rác”. vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  22. ^ Lê Hà (15 tháng 6 năm 2020). “”Chống ô nhiễm môi trường như chống giặc””. nhandan.com.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  23. ^ Vietnam News (29 tháng 4 năm 2020). “Society: Poverty still a major concern for Vietnamese people: PAPI report”. vietnamnews.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021.
  24. ^ Dat Nguyen (7 tháng 4 năm 2018). “9 million Vietnamese people still living in extreme poverty: report”. e.vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  25. ^ Phan Dương (29 tháng 6 năm 2021). “Lao động nghèo ‘teo tóp’ trong nắng nóng”. vnexpress.net.
  26. ^ Nhật Linh (15 tháng 4 năm 2021). “Hơn 60% người già Việt Nam không có lương hưu”. vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2021.
  27. ^ Lê Tấn Dũng – Thứ trưởng Bộ LĐ-TB và XH (31 tháng 10 năm 2019). “Nhận thức, thực tiễn và giải pháp về phúc lợi xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới”. hdll.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  28. ^ “World Report 2019: Rights Trends in Vietnam”. Human Rights Watch (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  29. ^ TTXVN (27 tháng 8 năm 2020). “Những điểm sáng của ngành ngoại giao Việt Nam trong 75 năm qua”. tuyengiao.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2020.
  30. ^ a ă Xuanjun Xie. “日本”起源于中国考 A Research On Japan’s Origin with China. Google 图书. 第179页 Lưu trữ 2016-04-20 tại Wayback Machine.
  31. ^ 郭振铎, 张笑梅. 越南通史. 北京: 中国人民大学出版社, năm 2001. ISBN 7-300-03402-0. Trang 536.
  32. ^ Woods 2002, tr. 38.
  33. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 117.
  34. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 126.
  35. ^ “Website Chính phủ Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
  36. ^ “Bộ Ngoại giao Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
  37. ^ “Vietnam noun – Definition, pictures, pronunciation and useage notes”. Oxford Learner’s Dictionaries. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  38. ^ “Viet Nam – Did you spell it correctly?”. Oxford Learner’s Dictionaries. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  39. ^ “Vietnam in Other Languages”. 101languages.net. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2021.
  40. ^ Niên giám thống kê 2006
  41. ^ “Biến đổi khí hậu trong quá khứ và tương lai ở Việt Nam Mỹ Xuân – Tổng cục Khí tượng Thủy văn (Dựa trên đề tài nghiên cứu của Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN)”. 6 tháng 11 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2018.
  42. ^ a ă â b “Origin of Vietnamese People”. American Technologies, Inc. (Business Collaboration Services). Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010.
  43. ^ Cooke, Li & Anderson 2011, tr. 46
  44. ^ Ngô Văn Thạo, tr. 823-824
  45. ^ “History of Vietnam: Chinese Colonization”. Windows on Asia (Asian Studies). Lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007.
  46. ^ Hà Anh Thư 2000, tr. 29
  47. ^ “Spears offer insight into early military strategy”. Thông tấn xã Việt Nam (tiếng Anh), 22 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  48. ^ Việt Nam sử lược (越南史略), Trần Trọng Kim tr. 99.
  49. ^ Eugene Page & M. Sonnenburg, tr. 723
  50. ^ Đại Việt sử lược, tr. 52
  51. ^ Nguyễn Khắc Ngữ (1988). Tây-phương tiếp-xúc với Việt-nam, Cuốn 1: Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha và Hòa-lan giao-tiếp với Đại-Việt (thế kỷ XVI, XVII, XVIII). Montréal, Canada: Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam.
  52. ^ Jacques, Roland (2002). Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 – Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne Jusqu’en 1650 (bằng tiếng Anh & tiếng Pháp). Bangkok, Thái Lan: Orchid Press. ISBN 974-8304-77-9.
  53. ^ Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. tr. 18–21. ISBN 9780520272477.
  54. ^ “French Counterrevolutionary Struggles: Algeria and Indochina” (PDF). Học viện Quân đội Hoa Kỳ (1968), lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011.
  55. ^ Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Vũ Mạnh Lợi (1995). “Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate” (PDF). 21 (4): 783–812. JSTOR 2137774.
  56. ^ “Cựu hoàng Bảo Đại và những canh bạc đế vương”. Báo Diễn đàn Doanh nghiệp. ngày 25 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  57. ^ Nash, Gary B., Julie Roy Jeffrey, John R. Howe, Peter J. Frederick, Allen F. Davis, Allan M. Winkler, Charlene Mires, and Carla Gardina Pestana. The American People, Concise Edition Creating a Nation and a Society, Combined Volume (ấn bản thứ 6). New York: Longman, 2007.
  58. ^ Robert C. Doyle (2010). The Enemy in Our Hands: America’s Treatment of Enemy Prisoners of War from the Revolution to the War on Terror. Đại học Kentucky. tr. 269. ISBN 978-0-8131-2589-3.
  59. ^ “Vietnam War” Lưu trữ 2015-09-24 tại Wayback Machine, Clark D. Neher, Đại học Bắc Illinois (Hoa Kỳ).
  60. ^ Malcolme W. Browne (13 tháng 10 năm 1999). “Saigon’s Finale”, đăng trên báo The New York Times.
  61. ^ F. Martin, Michael (29 tháng 10 năm 2009). “U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress” (PDF). CRS Report for Congress. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015.
  62. ^ “Đổi mới bắt đầu từ đâu?”. Báo Cần Thơ đăng tải ngày 19 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2005.
  63. ^ “Gần 96% đại biểu Quốc hội là đảng viên”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  64. ^ The Limits and Potential of Liberal Democratisation in Southeast Asia Lưu trữ 2016-06-14 tại Wayback Machine uni-hamburg, 10.12.2014
  65. ^ Theo trang web chính thức của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Quan hệ ngoại giao Lưu trữ 2015-07-22 tại Wayback Machine, truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015
  66. ^ “Các Tổ chức-Diễn đàn Quốc tế” Lưu trữ 2015-10-08 tại Wayback Machine, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Truy cập ngày 31 tháng 05 năm 2019.
  67. ^ “iệt Nam đã trúng cử Hội đồng Kinh tế – xã hội LHQ”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019.
  68. ^ “Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO” (Thông cáo báo chí). Xuân Danh, Báo Thanh niên. 8 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011.
  69. ^ “Distribution of Family Income – Gini Index” Lưu trữ 2011-06-04 tại Wayback Machine. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 27 tháng 11 năm 2011.
  70. ^ “ScienceDirect – Journal of Econometrics: On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam”. Science Direct. 12 tháng 9 năm 2002. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2019. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011.
  71. ^ Gallup, John Luke (2002). “The wage labor market and inequality in Viet Nam in the 1990s”. REPEC. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập 7 tháng 11 năm 2010.
  72. ^ “Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO” (Thông cáo báo chí). VnExpress. ngày 3 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  73. ^ “Tham nhũng trong mắt người dân đô thị VN” (Thông cáo báo chí). BBC. ngày 16 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  74. ^ “Việt Nam tham nhũng thứ ba châu Á?” (Thông cáo báo chí). BBC. ngày 8 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  75. ^ GDP per capita, PPP (current international $) Lưu trữ 2019-06-22 tại Wayback Machine cập nhật 14/4/2015, truy cập 20/4/2015
  76. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. http://www.imf.org. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2021.
  77. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. http://www.imf.org. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2020.
  78. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. http://www.imf.org. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2021.
  79. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. http://www.imf.org. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2021.
  80. ^ Viễn Thông (7 tháng 3 năm 2021). “Việt Nam lần đầu vào nhóm có chỉ số tự do kinh tế trung bình”. vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  81. ^ “Vì sao cần tăng cường quản lý báo điện tử?” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Công Dũng, Tạp chí Cộng sản. ngày 7 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  82. ^ “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013” (bằng tiếng Việt). Tổng cục Thống kê. 25 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2014. Truy cập 1 tháng 12 năm 2014.
  83. ^ Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê. “Công bố kết quả Tổng điều tra dân số 2019”.
  84. ^ “Dân số Việt Nam vượt mốc 90 triệu người”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập 16 tháng 8 năm 2015.
  85. ^ “Xu hướng phát triển dân số Việt Nam: Chưa giầu đã già”. RFI. ngày 14 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  86. ^ THIÊN THANH (ngày 26 tháng 11 năm 2017). “Đối diện nguy cơ về dân số”. Báo Nhân Dân. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  87. ^ a ă Zwartjes 2011, tr. 292.
  88. ^ Choy 2013, tr. 340.
  89. ^ Dinh Tham 2018, tr. 67.
  90. ^ Ozolinš 2016, tr. 130.
  91. ^ Jacques 1998, tr. 21.
  92. ^ Van Van, tr. 9.
  93. ^ Bộ thương mại quốc tế Vương quốc Anh 2018.
  94. ^ Van Van, tr. 8.
  95. ^ Wai-ming 2002, tr. 3.
  96. ^ Anh Dinh 2016, tr. 63.
  97. ^ Hirano 2016.
  98. ^ Lý Tùng Hiếu (2015). “Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn hóa Việt Nam” Lưu trữ 2020-09-20 tại Wayback Machine
  99. ^ Tran, Anh Q. (2018). “The Historiography of the Jesuits in Vietnam: 1615–1773 and 1957–2007”. Brill. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
  100. ^ Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel | Tuổi Trẻ news Lưu trữ 2016-03-13 tại Wayback Machine cập nhật 10/21/2012 14:08 GMT + 7
  101. ^ a ă â Khánh Hiền (5 tháng 12 năm 2012). “Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm “nóng” tội phạm ma túy – Pháp luật – Dân trí”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015.
  102. ^ “Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài – VnExpress”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  103. ^ Niên giám Thống kê 2013 Lưu trữ 2015-09-24 tại Wayback Machine, Trung tâm Tư liệu Thống kê – Tổng cục Thống kê Việt Nam
  104. ^ Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học Lưu trữ 2015-11-22 tại Wayback Machine, Xuân Vũ, Báo điện tử Dân trí, 04/12/2013
  105. ^ Việt Nam vượt Mỹ, Úc nhờ… luyện ‘gà chọi’? Lưu trữ 2019-05-31 tại Wayback Machine, Vietnamnet, 18/05/2015
  106. ^ Bộ Giáo dục bất ngờ với kết quả xếp hạng học sinh Lưu trữ 2019-05-31 tại Wayback Machine, Vietnamnet, 04/12/2013
  107. ^ “Muốn thành lập trường đại học tư thục phải có 1.000 tỷ đồng”. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  108. ^ “Những con số “biết nói” về giáo dục đại học Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  109. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). ngày 6 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  110. ^ “Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). ngày 6 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  111. ^ a ă Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui Lưu trữ 2015-12-08 tại Wayback Machine Thái Bình, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống cập nhật 1/9, 2014 | 06:00
  112. ^ VOVNEWS.VN | Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy – Nganh Y te 55 nam lam theo loi Bac day Lưu trữ 2015-09-06 tại Wayback Machine Văn Hải hứ 7, 16:30, 27/02/2010
  113. ^ Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ ĐCSVN 21:04 | 04/02/2010
  114. ^ Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng – Tuổi Trẻ Online Lưu trữ 2019-05-31 tại Wayback Machine Minh Quang 26/11/2009 22:48 GMT+7
  115. ^ News, VietNamNet. “Người Việt thọ 75,6 tuổi, đứng thứ 2 khu vực”. VietNamNet. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2021.
  116. ^ “Việt Nam có thêm 2 huy chương ở Paralympics”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.

Tham khảo

  • Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch, Nhà xuất bản Hà Nội 2007
  • Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: A Global Studies Handbook. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-416-1.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Tìm hiểu thêm về
Việt Nam
tại các dự án liên quan
Từ điển từ Wiktionary
Tập tin phương tiện từ Commons
Tin tức từ Wikinews
Danh ngôn từ Wikiquote
Văn kiện từ Wikisource
Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks
Cẩm nang du lịch guide từ Wikivoyage
Tài nguyên học tập từ Wikiversity
Biểu đồ gió Trung Quốc
 Lào
 Trung Quốc Trung Quốc
Vịnh Bắc Bộ
Biểu đồ gió
 Lào
 Campuchia
BBiển Đông
T    Việt Nam    Đ
N
 Campuchia
Vịnh Thái Lan
Biển ĐôngBiển Đông
xtsTổng quan về Việt Nam
xtsFlag of Vietnam.svg Đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam
Khu vực địa lý
Thành viên tổ chức quốc tế
Tiêu đề chuẩn BNE: XX450945 BNF: cb118686235 (data) GND: 4063514-4 HDS: 003430 ISNI: 0000 0001 2243 3868 LCCN: n79032186 MBAREA: 0158e991-c3c6-374a-9b9d-024bbaff6980 NARA: 10035814 NDL: 00560635 NKC: ge131295 NLA: 35581821 NLI: 000974886 SELIBR: 162420 SUDOC: 02643878X VIAF: 155871049 WorldCat Identities: lccn-n79032186

Thể loại:

Trình đơn chuyển hướng

Thêm

Tìm kiếm

Tương tác

Gõ tiếng Việt

Trợ giúp

  •  Tự động [F9]
  •  Telex (?)
  •  VNI (?)
  •  VIQR (?)
  •  VIQR*
  •  Tắt [F12]
  •  Bỏ dấu kiểu cũ [F7]
  •  Đúng chính tả [F8]

Công cụ

In/xuất ra

Tại dự án khác

Ngôn ngữ khác

Sửa liên kết

Bản đồ địa hình Việt Nam. Được tạo với GMT từ dữ liệu GLOBE được phát hành công khai Topographic map of Vietnam. Created with GMT from publicly released GLOBE data

Việt Nam Tổ Quốc tôi
THÔNG TIN NHANH VỀ VIỆT NAM
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

VIỆT NAM HỌC Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học: người Việt, tiếng Việt, nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế, xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm đúc kết kiến thức nền Việt Nam Học, giúp việc tìm hiểu đất nước con người Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Nguyễn Trãi, 1428) với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp. Việt Nam Học bài này giới thiệu tóm tắt Thông tin nhanh về Việt Nam Bài đọc thêm Việt Nam đất lành chim đậu Nha Trang và A. Yersin

Hình 2: Bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp Việt Nam

VIỆT NAM MỘT THOÁNG NHÌN
Hoàng Tố Nguyên

Việt Nam là một đất nước yêu độc lập, tự do và hạnh phúc. Đất nước Việt Nam hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Việt Nam có diện tích 331.211,6 km², Dân số hiện tại của Việt Nam là 98.169.571 người vào ngày 01/07/2021 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc; Việt Nam đang đứng thứ 15 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ.Mật độ dân số của Việt Nam là 317 người/ km²; 37,34% dân số sống ở thành thị (36.346.227 người vào năm 2019) (Nguồn: https://danso.org/viet-nam/). Thủ đô là Hà Nội. Ba thành phố chính nổi tiếng nhất của Việt Nam là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1 650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình). Kinh tuyến Việt Nam từ 102º 08′ đến 109º 28′ đông,Vĩ tuyến Việt Nam từ 8º 02′ – 23º 23′ bắc. Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Khí hậu Việt Nam là khí hậu của nước nhiệt đới gió mùa; Địa hình lãnh thổ Việt Nam phần đất liền bao gồm 3 phần 4 là đồi núi; Tài nguyên Việt Nam có những nguồn tài nguyên vô cùng phong phú như tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên du lịch và nhiều loại khoáng sản đa dạng, nhưng trên hết, trước hết đó là tài nguyên con người hiền hòa, thân thiện, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, năng động, sáng tạo, sống có trách nhiệm với mái nhà chung Trái Đất, thích làm bạn với nhân dân thế giới.  Phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay theo Điều 110 Hiến pháp 2013 [1] và Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương[2] gồm 3 cấp hành chính là cấp tỉnh, cấp huyện cấp xã; ngoài ra còn có đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập. Việt Nam sau nhiều lần chia tách và nhập lại, tính đến nay, có 63 đơn vị hành chính cấp Tỉnh, bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) và 58 tỉnh (tương ứng với chữ số được đánh dấu trên “bản đồ Hành chính Việt Nam“) và một thoáng nhìn toàn cảnh tại Bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp Việt Nam (hình 2 và 3).

Hình 3: Bản đồ Hành chính Việt Nam

Việt Nam Tổ quốc tôi  Nong Lam University in Ho Chi Minh Dạy và Học Cây Lương thực Việt Nam CNM365 Tình yêu cuộc sống đúc kết thông tin Việt Nam Đất nước Con người, Ngôn ngữ Nông nghiệp Du lịch Sinh thái, Lịch sử Địa lý Giáo dục Văn hóa, Kinh tế Xã hội Truyền Thông Ebook. Thông tin VIỆT NAM HỌC được trích dẫn từ Wikipedia tiếng Việt và các nguồn liên quan tới 1 tháng 7 năm 2021

Việt Nam Học bài đọc thêm
Nông nghiệp sinh thái Việt
Di sản thế giới tại Việt Nam
Du lịch sinh thái Việt
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt trăm năm
Ngôn ngữ văn hóa Việt
Dạo chơi non nước Việt

Việt Nam đất lành chim đậu

NHA TRANG VÀ A. YERSIN
Hoàng Kim


A Na bà chúa Ngọc
Nha Trang và A. Yersin
Ban mai đứng trước biển
Hoa Đất Ngọc phương Nam..

Nha Trang biển yến rừng trầm thiên đường nghỉ dưỡng du lịch biển đảo nổi tiếng Việt Nam , nơi ấy có di sản nổi tiếng A Na bà chúa Ngọc Nha Trang cũng là nơi an nghĩ và lưu dấu những cống hiến đặc biệt xuất sắc của nhà bác hoc thiên tài Yersin. Quần thể lăng mộ Yersin ở Suối Dầu và Viện Pasteur Thư viện Yersin công viên Yersin Nha Trang là trường hợp duy nhất Chính phủ Việt Nam cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho một người nước ngoài. Dân làng Tân Xương Suối Dầu thờ Yersin làm Thành hoàng. Ngày mỗi ngày, công viên Yersin, Bảo tàng Yersin, mộ Yersin càng có nhiều lượt khách trong nước và quốc tế đến thăm để chiêm nghiệm bài học lớn tình yêu cuộc sống.

A. YERSIN Ở NHA TRANG

Alexandre Émile Jean Yersin là nhà bác học lỗi lạc người Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông là bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, nhà thám hiểm, nhà nông học, nhà chăn nuôi, nhà điểu học, nhà dân tộc học, nhiếp ảnh gia, nhà nghiên cứu khí tượng, nhà văn, nhà dịch thuật, nhà nhân đạo và ân nhân được nhân dân Việt Nam tôn kính. Ông được trao tặng Bắc Đẩu Bội tinh, huân chương cao quý nhất của nước Pháp, Việt Nam long bội tinh, Viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa học, Viện Hàn lâm Y học, Viện Hàn lâm Khoa học các thuộc địa, Hội Bệnh học Hải ngoại, Hội Y học Nhiệt đới, Hội Thiên văn Pháp quốc. Yersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863 tại làng Lavaux (hat Vaux) Aubonne, Thụy Sĩ, tổ tiên ông vốn là người Pháp di cư sang Thụy Sĩ, năm 1889 ông phục hồi quốc tịch Pháp. Alecxandre Yersin mất tại Nha Trang ngày 01 tháng 3 năm 1943.

Nha Trang gắn bó với Yersin như hình với bóng. Yersin sống chết với Nha Trang. Ông tới Việt Nam năm 1890, Ông thám hiểm tìm ra con đường bộ từ Nha Trang ven Biển Đông băng qua dãy Trường Sơn qua Stung Treng đi suốt dọc ha lưu sông Mekong đến Phnom Penh năm 1892 . Ông là người thám sát lần đầu Cao nguyên Lâm Viên năm 1893 giúp thiết lập nên thành phố nghỉ mát Đà Lạt. Yersin đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch sau này được đặt theo tên ông Yersinia pestis năm 1894 và điều chế huyết thanh chữa trị. Yersin là người sáng lập Viện Pasteur Nha Trang năm 1895. Với tiền thưởng khoa học, Yersin mua một khu đất rộng 500 héc-ta ở Suối Dầu để làm nông nghiệp và chăn nuôi.

Nha Trang và Yersin có một mối nhân duyên thật kỳ lạ. Năm 1891, khi đặt chân đến Nha Trang, Yersin đã yêu mến vùng đất này, và quyết định lưu trú tại đây. Ông viết cho Émile Roux, “Hãy đến đây với tôi, ông sẽ biết ở đây thú vị như thế nào, thời tiết không nóng nhiều, cũng không lạnh lắm, một khung cảnh thanh bình tuyệt đối và nhiều công việc cần làm“. Tên gọi “Nha Trang” có hai giả thuyết, một giả thuyết cho rằng nó được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là Ya Trang hay Ea Trang (có nghĩa là “sông Lau”, tiếng người Chăm, tức là gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, con sông này đổ ra biển đúng chỗ có nhiều cây lau). Từ tên sông, sau chỉ rộng ra vùng đất, từ năm 1653. Giả thiết khác cho rằng Nha Trang trước năm 1891 chưa có tên gọi trên bản đồ chỉ mới là một vịnh nước yên tĩnh đầy nắng nhưng khi Yersin đến ở và xây “nhà trắng” nổi bật trên những ngôi nhà làng chài lúp xúp trên dải cát trắng từ năm 1891, thì họ gọi là ”Nhà trắng” lâu dần phiên âm thành Nha trang. Giả thiết đầu tiên được các nhà nghiên cứu thống nhất hơn. Dẫu vậy giả thuyết thứ hai cũng được nhiều người ủng hộ.

Yersin lưu dấu nhiều ký ức sâu đậm tại Nha Trang. Di sản Yersin thật sự to lớn và bền vững với thời gian ở Việt Nam. Ông từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang ngày 1 tháng 3 năm 1943, và để lại di chúc: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn.” Noël Bernard, người đầu tiên viết tiểu sử Yersin đã nhận xét: “Chắc chắn rất hiếm có người ít tư lợi đến thế. Yersin tự xóa mờ mình đi để người khác được tự do sáng kiến, sự tự do mà chính bản thân ông hết sức gắn bó

Yersin cũng lưu dấu ở Đà Lạt, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thủ Dầu Một. Tại Đà Lạt, thành phố tình yêu, nơi núi non tuyệt đẹp trên cao nguyên Lâm Viên, Yersin là người nước ngoài đầu tiên đã thám hiểm và khám phá ra Đà Lạt. Tên ông được lưu dấu tại Trường Lycée Yersin (Trường Cao đẳng Sư phạm), Trường Đại học Yersin và Công viên Yersin. Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Thủ Dầu Một,  tên của Yersin được đặt  tên đường để vinh danh. Dẫu vậy, nơi chính của Người vẫn là ở Nha Trang.

Ông Yersin là người đầu tiên du nhập và phát triển cây cao su ở Việt Nam năm 1897. Ông tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại Suối Dầu, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học với một trạm xá phục vụ cư dân trong vùng.

Ngoài việc du nhập và phát triển cây cao su, ông cũng cho trồng cây cà-phê Liberia, các loại cây thuốc, cây coca để sản xuất cô-ca-in sử dụng trong ngành dược. Ông làm vườn, trồng hoa, nuôi chim, nuôi ngựa bò, sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò. Trung tâm thí nghiệm này về sau trở thành Viện Thú y đầu tiên ở Đông Dương. Ông là người thành lập và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội) năm 1902. Ông trồng thử nghiệm cây canh ki na để sản xuất thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét năm 1917. Ông Năm Yersin nghiên cứu khoa học, sống thung dung trọn đời với người dân và thiên nhiên trong lành ở Suối Dầu, Nha Trang, Khánh Hòa.

Mộ ông Năm Alexandre Yersin nằm trên một ngọn đồi nhỏ gần Trại chăn nuôi Suối Dầu thuộc xã Suối Cát, huyện Cam Lâm, cách Nha Trang 20 km về phía nam và cách Đà Lạt 191km. Vị trí ngôi mộ tính từ cột mốc cây số và bảng hiệu chỉ đường rất rõ trên đường Quốc lộ 1, vào khoảng 2 km nữa thì đến một ngọn đồi có mộ ông Năm. Ngọn đồi này nằm giữa khu đất 500 ha ở Suối Dầu mà ông Năm đã mua bằng tiền thưởng nghiên cứu khoa học của chính ông. Tôi thật sự kính phục và ngưỡng mộ ông Năm và biết ơn khu đất này vì giống sắn KM94 và một số giống sắn lai mới triển vọng được bảo tồn và phát triển từ đây (Tôi sẽ kể chi tiết ở phần dưới).

A. YERSIN VỚI VIỆT NAM

Ông Năm Yersin là một người dân Việt sống chết với Việt Nam như chính sự thật cuộc đời ông mà không chỉ là một nhà bác học lỗi lạc người Pháp gốc Thụy Sĩ . Ông Năm hiền lành tốt bụng là người thầy, nhà nhân đạo và ân nhân được nhân dân Việt Nam tôn kính. Suối Giầu Nha Trang  nơi ông an nghĩ trở thành nôi nuôi dưỡng hun đúc những thành quả lao động khoa học không chỉ của ông mà còn của lớp người sau. (Suối Dầu hay Suối Giầu .còn đó một ẩn ngữ vì bác Năm Yersin cũng là một nhà ngôn ngữ học thông tuệ và tên gọi này có từ thời ông. Thơ thiền Trần Nhân Tông có câu: “Sách Nhàn đọc dấu Thơ thiền Nhân Tông như có như không”.”Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim” . Giấu hay là Dấu là một ẩn ngữ trên 700 năm Giầu hay là Dầu cũng là một ẩn ngữ trên 100 năm nay.

Ông Năm Yersin không chỉ là bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, nhà bệnh học hàng đầu thế giới, mà còn là người thành lập và là Hiệu trưởng đầu tiên Trường Y Đông Dương từ năm 1902 (tiền thân của Đại học Y Hà Nội) . Ông Năm là người đầu tiên tìm ra bệnh bạch hầu và cách chữa trị năm 1888, người đầu tiên tìm ra bệnh dịch hạch và điều chế huyết thanh chữa trị, người đầu tiên thử nghiệm cây canh ki na để sản xuất thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét năm 1917.

Ông Năm Yersin không những là nhà thám hiểm đặc biệt xuất sắc, người làm cho Nha Trang có tên ‘nhà trắng ông Hoàng’ ở ven biển Nha Trang thuở xưa, người thám sát lần đầu Cao nguyên Lâm Viên năm 1893 giúp thiết lập nên thành phố nghỉ mát Đà Lạt mà còn là nhà thám hiểm người nước ngoài đầu tiên đã tìm ra con đường bộ từ Nha Trang ở ven Biển Đông đi băng qua dãy Trường Sơn tới Stung Treng và đi suốt dọc hạ lưu sông Mekong đến Phnom Penh vào năm 1892.

Ông Năm Yersin không những là nhà chăn nuôi thành lập Trại Chăn nuôi Suối Dầu đầu tiên để làm Trung tâm thí nghiệm sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò ngựa, và nơi này về sau trở thành Viện Thú y đầu tiên ở Đông Dương, nay lại trở thành Viện Paster Khánh Hòa mà ông Năm Yersin còn là nhà điểu học, nhà dân tộc học, nhiếp ảnh gia, nhà thiên văn, nhà phong thủy tài danh đặc biệt xuất sắc về khí tượng nông nghiệp. Ông vừa là nhà văn và là nhà dịch thuật;

Ông Năm Yersin không những là một nhà bác học đặc biệt thông tuệ mà còn là một nhà nông học phúc hậu hiền triết yêu thiên nhiên con người cây cỏ muông thú và vạn vật. Ông sống thung dung tự do tự tại giữa thiên nhiên an lành. Ông là người nước ngoài duy nhất được Chính phủ Việt Nam cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vì ông là nhà nhân đạo và ân nhân được người Việt tôn kính vì ông làm điều thiện việc lành mà cuộc đời ông như gương trong. Ông Năm Yersin là người đầu tiên du nhập và phát triển cây cao su ở Việt Nam năm 1897. Ông nhờ khu đất rộng 500 héc-ta của chính ông tự mua ở Suối Dầu để làm nông nghiệp và chăn nuôi mà ông cũng là người đầu tiên du nhập và tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại Suối Dầu, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học với một trạm xá phục vụ cư dân trong vùng.

Sắn Việt ở Suối Dầu chuyện nhỏ bài học lớn. Ông Năm Yersin mất lâu rồi mà đất lành ông Năm vẫn tiếp tục nở hoa đất việc tốt điều thiện. Sắn Việt KM94 cùng nhiều giống sắn lai mới được bảo tồn tuyển chọn, nhân giống phát triển ở tỉnh Khánh Hòa từ năm 1993, từ một phần tư thế kỷ trước, tại đất lành Suối Dầu của ông Năm Yersin là nôi chọn và nhân giống cho miền Trung và sau đó đã phát triển rộng rãi ra khắp Việt Nam. Ông Năm Yersin sống và chết tại Việt Nam, sau nửa thế kỷ Hoa Người và Hoa Đất ấy tiếp tục nở hoa. Chúng ta có được nhiều nhà khoa học xanh đến đất lành Việt Nam cùng chung sức làm việc. Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler là những người bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á và Việt Nam, mà tôi thực sự kính trọng yêu mến họ và tôi sẽ kể tiếp cho bạn nghe trong câu chuyện khác.

Di sản ông Năm Yersin ở Việt Nam thật kính trọng và ngưỡng mộ.

ĐẤT SUỐI DẦU A. YERSIN

Trại Chăn nuôi  Suối Dầu ở Suối Cát xã Cam Lâm, cách Nha Trang 20 km về phía nam và cách Đà Lạt 191 km. Nơi cột mốc cây số ven đường Quốc lộ 1 vẫn là tấm bảng hiệu khiêm nhường chỉ đường vào đất lành suối Dầu ông Năm Yersin. (Suối Dầu hay suối Giầu, giống như Đại Ngãi hay Đại Nghĩa, quê hương người anh hùng lao động Lương Định Của con đường lúa gạo Việt Nam ở Sóc Trăng). Trại Chăn nuôi Suối Dầu Cam Lâm chính nơi đây năm 1993 đã là nôi khảo nghiệm nhân giống sắn KM94 ra Khánh Hòa và các tỉnh miền Trung Việt Nam sau hơn nữa thế kỷ từ năm 1943 mà bác Năm Yersin mất. Chị Đinh Thị Dục, giám đốc Trung tâm Khuyến Nông và Khuyến Lâm Khánh Hòa đã phối hợp cùng chúng tôi công bố kết quả này tại sách sắn ”Chương trình sắn Việt Nam hướng đến năm 2000″ trang 239 – 243. Tôi tìm về di sản đất lành Suối Dầu ông Năm Yersin với biết bao xúc động cảm khái. Tôi lắng nghe các cây cao su già trăm tuổi, mía, đồng cỏ …và các ruộng sắn rì rào trò chuyện với gió núi, gió đồng quê gió biển. Chính nơi đây một phần tư thế kỷ trước tôi đã đến đây nhiều lần và thấu hiểu và chiêm nghiêm trên cõi đời này có nhiều điều uẩn khúc. Mục tiêu sau cùng của dạy và học là thấu suốt bản chất sự vật có lời giải đúng và làm được việc.

Đất lành Suối Dầu A. Yersin đến nay tuy được bảo tồn nhưng vẫn chưa được đánh thức đúng tiềm năng. Hội Liên hiệp Phụ Nữ Thành phố Nha Trang chào mừng Khánh Hòa 350 năm đã có đầu tư giếng khoan nhưng phải đậy nắp vì sợ sự bảo quản máy bơm không an toàn và dường như điều này chưa thật đúng như tâm nguyện ông Năm Yersin là muốn nước giếng thơi ai cũng múc được. Giáo sư bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng đã kể chuyện về quẻ Thủy Phong Tỉnh dạy về tinh thần của giếng trong sách Chu Dịch của cụ Sào Nam “Nước giếng trong không đậy, ai cần thì cứ múc. Giếng không sợ cạn. Càng múc nước lên càng trong, đầy mà không tràn. Không được đậy lại, phải để mọi người dùng”. Cụ Phan Bội Châu bàn về hào thượng quẻ Tỉnh:“Nước đã lên miệng giếng rồi, thời nên để cho tất thảy người dùng, chớ nên che trùm lại. Hễ ai muốn múc thời tùy ý múc. Quân tử đem tài đức ra gánh vác việc đời. Hễ lợi ích cho thiên hạ thời cứ làm, mà chẳng bao giờ tiếc công”.

Tôi và tiến sĩ Phan Công Kiên được mời tham gia Hội đồng Khoa học và Công nghệ Khánh Hòa đánh giá nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu xác định đối tượng và cơ cấu cây trồng phù hợp trên đất thoái hóa tại xã Cam Thịnh Tây, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa”. Tiến sĩ Phan Công Kiên là Phó Viện Trưởng Viện nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố. Kiên mới đến khu mộ bác Năm lần đầu còn tôi thì đã đến đây nhiều lần từ nhiều năm trước. Chúng tôi sau khi họp xong đã dành được thời gian lên thăm và thắp hương tưởng nhớ bác Năm, và cùng đứng bên khu mộ với giếng nước thơi để tưởng nhớ Người. Tôi thầm mong một ngày nào đó sẽ có cơ hội đưa gia đình và các bé con cháu tôi về nơi đây để thấu hiểu Nha Trang và Yersin một bài học lớn. Bài học giấc mơ hạnh phúc…

Tôi thắp hương tưởng nhớ bác Năm Yersin theo lối gọi yêu mến của người dân Việt và bâng khuâng nhớ Người. Tôi thầm tự hỏi: dưới vòm trời này, đất lành này, núi biếc biển xanh này, so sánh con người phúc hậu, hiền lành, khiêm nhường đang nằm dưới ngôi mộ yên bình kia và những vĩ nhân lỗi lạc nhất của các nước lớn đến và ra đi khỏi Việt Nam, rốt cụộc thì ai hơn ai ? Ai đọng lại trong lòng dân Việt sâu bền hơn?

Biết bao danh nhân nước ngoài đến Việt Nam nhưng mấy ai được dân Việt tôn kính và quý trọng đến vậy? Ông Năm khiêm nhường như thế nhưng công đức và công bằng lịch sử lắng đọng như một ân nhân dân Việt . Tôi về nhà muộn, không dừng được những suy nghĩ về bác Năm. Tôi chợt đọc được cảm nhận xúc động của em Nguyễn Quang Huy quê Phú Yên và tôi không nỡ không thức dậy thắp ngọn đèn khuya để đối thoại thầm lặng với đêm thiêng. Nguyễn Quang Huy viết:

Em đọc Yersin, người chữa trị dịch hạch và thổ tả, vào những buổi sáng ở cao nguyên Lâm Viên, lòng vô cùng ngưỡng mộ về vị bác sĩ danh tiếng này. Từ một chuyên gia trong lĩnh vực vi trùng, lại bỏ áo bluse để trở thành một thủy thủ vì sau một chuyến công tác đã “lần đầu tiên thấy biển”. Rồi khi trở thành thủy thủ lại một lần nữa từ bỏ những con sóng để khám phá ra cao nguyên Lâm Viên vì “nhìn thấy những đám mây trên rặng núi của Khánh Vĩnh chưa có ai khám phá”. Thế rồi sau những chuyến phiêu lưu lại trở thành một chuyên gia nông học, chủ đồn điền để lại cho người Việt biết bao lợi ích vì những công hiến của mình. Từ đồn điền rộng 500ha ông lại lui vè với mảnh đất mấy mét vuông với tấm bia mộ khiêm tốn ở Suối Dầu, để lại cho đời hình ảnh về một con người phi thường, một người không có cha nhưng đã đi xa hơn những giới hạn mà những người cha có thể đạt tới.

Theo mô tả của Patrick Deville thì Yersin suốt đời theo đuổi cái hiện đại nhất, em lại nhớ tới lời dạy của thầy Hoàng Kim rằng trong nghiên cứu khoa học phải mang về những thông tin số liệu mới nhất của thế giới, giống tốt nhất để phục vụ cho bà con. Em ngưỡng mộ cách thiết kế bài giảng của Thầy, thể hiện được sự tôn trọng khoa học và yêu nghề lớn lao.

Em chưa đến được viện Passteur cũng như đến Suối Dầu thăm mộ của bác sĩ Yersin, nhưng em có cảm giác một sự đồng điệu ghê gớm với con người của thế kỉ trước này. Em cũng đã ghé thăm trường Lycée Yersin (đã đổi tên thành Cao Đẳng Sư Phạm) hay Đại học Yersin nhưng chưa tìm thấy dấu ấn nào. Mong rằng có dịp sẽ đến được Suối Dầu Nha Trang để thắp một nén nhang và tưởng nhớ về một con người vĩ đại.

Cảm ơn Thầy ạ.”

Ông Năm Yersin không phải là người Việt nhưng ông được mọi người Việt mọi thời yêu quý, tôn kính, ngưỡng mộ. Ông thật hạnh phúc.

Đất lành bác Năm Yersin như cuốn sách kỳ diệu “vừng ơi mở ra”.
Nha Trang và Yersin, đất lành chim đậu, người hiền đến ở.
Nơi đây an nhiên một CON NGƯỜI.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Việt Nam tổ quốc tôi

VietNamToQuocToi

DẠY VÀ HỌC Việt Nam tổ quốc tôi  là trang thông tin khái quát kết nối với các chuyên trang Tình yêu cuộc sống, CNM365 , Hoàng Kim, Khát khao xanh, Dạy và học, Cây Lương thực Việt Nam (www.foodcrops.vn) nhằm tìm hiểu và giới thiệu về Đất nước Con người, Địa lý, Lịch sử, Văn hóa, Giáo dục, Nông nghiệp, Truyền thông, Du lịch, Kinh tế Xã hội và Ebook Việt Nam. Việt Nam thông tin khái quát?  là câu hỏi thường gặp đầu tiên về Đất nước học Việt Nam. Trả lời câu hỏi này, nguồn trích dẫn chính được sử dụng là tài liệu Việt Nam, Wikipedia – Tiếng Việt, Bách khoa Toàn thư mở để định hướng, sau đó đi thẳng vào những trang liên kết trong, ngoài và liên tục bổ sung hoàn thiện thêm. Mời các bạn cùng đọc và trao đổi thông tin tại đây hoặc trên trang KimFacebook, Dạy và Học

Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía đông, giáp với Lào và Campuchia, thuộc bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á thuộc châu Á. Thông tin trên Wikipedia tiếng Việt đến 30 tháng 5 năm 2017 được trích  dẫn đầy đủ như sau:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Flag of Vietnam.svg Coat of arms of Vietnam.svg
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Việt Nam
Vị trí của Việt Nam trên thế giới
Vị trí của Việt Nam
Vị trí của Việt Nam trong Đông Nam Á
Tiêu ngữ
Độc lậpTự doHạnh phúc
Quốc ca
Tiến quân ca

Trình đơn
0:00
Hành chính
Chính phủ Xã hội chủ nghĩa một đảng
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Chủ tịch nước Trần Đại Quang
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân
Lập pháp Quốc hội Việt Nam
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Việt
Thủ đô Hà Nội
21°2′B 105°51′Đ
Thành phố lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh
Địa lý
Diện tích 331.699 km² (phần đất liền)[1]
128.565 mi² (hạng 66)
Diện tích nước 6,4[2] %
Múi giờ Giờ chuẩn Đông Dương (UTC+07:00)
Lịch sử
2 tháng 9 năm 1945 Tuyên bố độc lập
30 tháng 4 năm 1975 Giải phóng Miền Nam
2 tháng 7 năm 1976 Tái thống nhất
Dân cư
Tên dân tộc Người Việt
Dân số ước lượng (2016) 95.261.021[3] người (hạng 14)
Mật độ 305 người/km² (hạng 52)

671 người/mi²

Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 594,891 tỷ USD[4] (hạng 35)
Bình quân đầu người: 6.421 USD[4] (hạng 126)
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 200,493 tỷ đô la[4] (hạng 48)
Bình quân đầu người: 2.164 USD[4] (hạng 134)
HDI (2015) tăng 0,683[5]
trung bình (hạng 115)
Hệ số Gini (2012) 38,7[6]
trung bình (hạng 54)
Đơn vị tiền tệ Đồng (₫) (VND)
Thông tin khác
Tên miền Internet .vn
Mã điện thoại 84
Lái xe bên phải
Theo tên chính thức và Hiến pháp 1992

Việt Nam (tên chính thức: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là một quốc gia nằm ở phía đông, giáp với Lào và Campuchia, thuộc bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á thuộc châu Á.Phía bắc Việt Nam giáp với Trung Quốc, phía tây Việt Nam giáp với LàoCampuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo,[7] bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²). Trên biển Đông có quần đảo Trường SaHoàng Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng đang trong vòng tranh chấp với các quốc gia Đài Loan, Trung Quốc, MalaysiaPhilippines.

Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, quan hệ kinh tế – thương mại – đầu tư với trên 224 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên Liên Hợp Quốc, ASEAN, ASEM, APEC, WTO, Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Phong trào không liên kết, UNESCO và nhiều tổ chức quốc tế, khu vực khác.[8] Kể từ năm 2000 Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới,[9] tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chậm lại trong những năm sau. Việc đổi mới kinh tế thành công đã dẫn đường cho Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách kinh tế – xã hội, Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề tiêu cực như tỷ lệ hộ nghèo còn cao, bất bình đẳng về thu nhập cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe kém và tình trạng bất bình đẳng giới tính còn nhiều. [10][11][12]

Mục lục

Tên gọi

Bài chi tiết: Tên gọi Việt Nam

“Việt Nam” (chữ Hán: 越南) chính thức trở thành quốc hiệu của Việt Nam lần đầu tiên sau khi nhà Nguyễn (Việt Nam) được nhà Thanh (Trung Quốc) ban cho làm quốc hiệu.[13] Năm Gia Long nguyên niên (Tây lịch năm 1802) vua Gia Long cho người mang quốc thư và cống vật sang Trung Quốc xin nhà Thanh cho đổi quốc hiệu thành “Nam Việt” 南越 và phong hiệu cho vua Gia Long. Nhà Thanh không đồng ý cho An Nam đổi quốc hiệu thành Nam Việt vì nước Nam Việt có cương vực rộng lớn, bao gồm cả hai tỉnh Quảng ĐôngQuảng Tây của Trung Quốc, An Nam thì chỉ nằm trên đất Giao Chỉ. Nhà Thanh đảo ngược tên “Nam Việt” 南越 thành “Việt Nam” 越南, ban cho triều Nguyễn lấy làm quốc hiệu. Chữ “Việt” 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, nước này trước đây chỉ có đất Việt Thường. Chữ “nam” 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, cương vực sau này của nước này. Đặt quốc hiệu là “Việt Nam” 越南 vẫn có hai chữ “nam việt” 南越 trong tên mà lại không nhầm lẫn với nước Nam Việt, lại thể hiện được vị trí địa lý của nước này là nằm ở phía nam Bách Việt. Năm Gia Long thứ ba (Tây lịch năm 1804), vua Gia Khánh nhà Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm (齊布森) sang tuyên phong Gia Long làm “Việt Nam quốc vương” 越南國王.[13][14]

Quốc danh “Việt Nam” được chính thức sử dụng lần đầu dưới thời vua Gia Long từ năm 1804 đến 1813.[15] Tên gọi này sau đó xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905, và sau đó được sử dụng bởi Việt Nam Quốc dân Đảng.[16] Thời Pháp thuộc, đất nước thường được gọi bằng tên “An Nam” cho tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh ở Hà Nội chính thức đặt quốc hiệu là “Việt Nam”.[17]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Việt Nam

Buổi đầu lịch sử, Việt Nam đã phải trải qua một ngàn năm Bắc thuộc, từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên. Đến năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và giành được độc lập cho dân tộc Việt. Sau đó, chế độ phong kiến Việt Nam phát triển mạnh mẽ cùng với công cuộc mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam. Tới giữa thế kỷ 19, đất nước bị thực dân Pháp đô hộ và sát nhập cùng LàoCampuchia tạo thành Liên bang Đông Dương – thuộc địa của Pháp.

Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh đuổi thực dân Pháp năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm 2 nửa: miền Bắc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo chủ nghĩa cộng sản, trong khi ở miền Nam, Hoa Kỳ đổ tiền bạc để lập nên Việt Nam Cộng hòa theo chủ nghĩa chống cộng[18] Sự can thiệp của Hoa Kỳ dẫn đến Chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến kết thúc vào năm 1975 khi Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giành thắng lợi và thống nhất đất nước. Tuy vậy, sau đó, Việt Nam phải trải qua tình trạng nghèo đói và bị tàn phá bởi chiến tranh, cùng với việc Hoa Kỳ cấm vận giao thương với Việt Nam.[19] Vào năm 1986, Việt Nam tiến hành một số cải cách về kinh tế (gọi là Đổi mới), mở cửa cho nền kinh tế Việt Nam hòa nhập với quốc tế.[9]

Thời tiền sử và cổ đại

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng (Homo erectus) vào thời kỳ đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của con người thời tiền sử được phát hiện tại các tỉnh phía Bắc gồm Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh BìnhQuảng Bình.[20] Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.[20]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây khoảng 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; hàng loạt dấu vết của việc trồng lúa đã được phát hiện trên khắp lãnh thổ, từ cao nguyên cho tới đồng bằng.[20] Ngoài ra, con người đã bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo đạt đến đỉnh cao.[20] Đến khoảng năm 1000 trước Công nguyên, khu vực lúa nước phát triển ở sông Hồng và sông Cả phát triển mạnh mẽ thành nền văn hóa Đông Sơn, nền văn minh đầu tiên của người Việt cổ, nổi tiếng với những trống đồng Đông Sơn tinh tế.[21] Sau đó, những nhà nước đầu tiên của người Việt, Văn LangÂu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên.[22]

Thời phong kiến

Hoàng thành Thăng Long là nơi đóng đô của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam

Bản đồ thể hiện công cuộc Nam tiến mở rộng bờ cõi nước Việt từ Bắc xuống Nam trong vòng từ năm 1069-1757

Bắt đầu từ thế kỷ 2 TCN, người Việt bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị trong hơn một ngàn năm.[23] Sau nhiều lần khởi nghĩa không thành của những vị tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan hoặc chỉ giành độc lập trong thời gian ngắn như Hai Bà Trưng, Lý Bí, đến năm 905 Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự chủ cho người Việt, song chưa hẳn là giành được độc lập dân tộc vì Khúc Thừa Dụ vẫn tự nhận mình là quan của triều đình phương Bắc dù chỉ trên danh nghĩa.[24]

Đến năm 938, Việt Nam chính thức giành được độc lập lâu dài sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy, đánh bại quân Nam Hán.[25] Ngô Quyền xưng vương, tự đặt triều đình cai trị, đánh dấu việc người Việt chính thức độc lập khỏi các triều đình phương Bắc.

Sau khi giành được độc lập, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14, dân tộc Việt Nam đã xây dựng đất nước với quốc hiệu là Đại Việt. Các triều đại nhà Tiền Lê, nhà Lýnhà Trần đã tổ chức chính quyền tương tự thể chế chính trị của các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá những tư tưởng của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Trong giai đoạn này, nhà Tiền Lê, nhà Lýnhà Trần đã có một số lần phải chống trả các cuộc tấn công của các triều đại phong kiến ở Trung Quốc, nhưng đều giành được thắng lợi và bảo vệ được nền độc lập của Đại Việt.Tiêu biểu là ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược dưới thời nhà Trần.

Đến năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ đổi tên nước là Đại Ngu, các cuộc cải cách của nhà Hồ khiến triều đình làm mất lòng dân. Năm 1407, Đại Ngu bị nhà Minh của Trung Hoa thôn tính, giai đoạn độc lập của người Việt bị gián đoạn. Sau đó, năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nên nhà Hậu Lê, giành lại độc lập cho dân tộc Việt. Triều Hậu Lê là triều đại mà chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497).[26]

Vào thế kỷ 16, khi nhà Hậu Lê suy yếu, hai thế lực phong kiến lớn của Việt Nam là tập đoàn chúa Trịnhchúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nên cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài hơn một trăm năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoàiđàng Trong trong suốt 200 năm. Sau đó, đến cuối thế kỷ 18, vị tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ đánh bại cả hai lực lượng và lập nên nhà Tây Sơn, thống nhất Đại Việt. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ mất sớm, người kế vị là Hoàng đế Cảnh Thịnh không đủ tài năng nên nhà Tây Sơn chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi và sau đó bị Nguyễn Ánh (một thành viên trong dòng họ chúa Nguyễn) cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập nên nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.[27]

Trong suốt thời đại phong kiến, các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn đã có công thu phục Chiêm Thành, Chân LạpTây Nguyên ở phía Nam, mở mang bờ cõi đất nước.[28]

Các đô thị chính: Hà Nội, Việt Trì, Thái Nguyên, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Biên Hòa, TP Hồ Chí Minh, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.

Lịch sử hiện đại

Đại lộ Paul Bert, Hải Phòng thời Pháp thuộc

Đến giữa thế kỷ 19, thực dân Pháp tiến hành xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm ba nước Việt Nam, LàoCampuchia làm thuộc địa. Đến năm 1887, ba quốc gia trên sát nhập thành Liên bang Đông Dương, chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Trong thời gian này, Thiên Chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam, cùng với những phong tục, tập quán Tây phương, dần dần trở nên phổ biến song hành với những phong tục văn hóa truyền thống.[29] Trong chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Nhật Bản đảo chính Pháp và chiếm toàn thể Đông Dương. Với sự chuẩn bị từ trước đó trong nhiều năm và với sự ủng hộ của người dân, ngay sau khi hay tin đế quốc Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Việt Minh giành lại chính quyền từ tay Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước tự chủ đầu tiên của người Việt thời hiện đại. Tới tháng 1/1946, chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức trở thành người đại diện hợp pháp duy nhất cho nhân dân Việt Nam.[30]

Trực thăng Hoa Kỳ phun chất độc hóa học (có thể là chất độc da cam) xuống đồng bằng sông Cửu Long năm 1969.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp muốn chiếm lại thuộc địa Đông Dương nhưng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người Việt Nam do lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) lãnh đạo. Để đối chọi lại với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, năm 1949, Pháp dựng lên Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại (từng là hoàng đế nhà Nguyễn) làm Quốc trưởng.[31]

Sau chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève được ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của thực dân Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia nước Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự cho Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) ở phía nam, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời (không được coi là biên giưới quốc gia), dự kiến sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước.[32] Tuy nhiên, vì nhiều tác nhân bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp chính trị của Hoa Kỳ và sự bác bỏ tổng tuyển cử toàn quốc của chính quyền Ngô Đình Diệm nên ở miền Nam, việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước mãi tới năm 1976 mới được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức. Tại miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hậu thuẫn và được công nhận bởi các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ. Chính phe này tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất đất nước[33] Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam được Liên Xô, Trung Quốc hậu thuẫn và được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ. Từ đây, Việt Nam tạm thời bị chia cắt với: Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản và tại miền Nam Việt Nam Cộng hòa thì theo chủ nghĩa tư bảnchống cộng sản tồn tại song song với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đường lối dân tộc chủ nghĩa.[18]

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời tại miền Nam với mục tiêu đoàn kết những người dân miền Nam có tinh thần chống lại sự can thiệp của Mỹ, muốn đánh đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa để thực hiện thống nhất Việt Nam.[34] Xung đột quân sự dần trở nên nghiêm trọng và kéo dài suốt hai thập kỷ (gọi là cuộc chiến tranh Việt Nam). Năm 1964, nhận thấy Việt Nam Cộng hòa sắp sụp đổ, Hoa Kỳ chính thức can thiệp quân sự, đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại chiến trường Nam Việt Nam và thực hiện các đợt ném bom vào miền Bắc.[35] Năm 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thực hành tổng tấn công khắp miền Nam nhân dịp Tết Mậu Thân, gây ra những tổn thất lớn cho Hoa Kỳ và làm cho phong trào phản chiến tăng mạnh.[36] Tới tháng 6/1969, Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập và được 50 quốc gia trên thế giới công nhận.[37]

Đến tháng 1 năm 1973, sau những tổn thất vượt ngưỡng chịu đựng trên chiến trường Việt Nam, cùng với những khó khăn trên chính trường Mỹ cộng với tác động của phong trào phản chiến trong nước và trên thế giới, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris và rút quân khỏi Việt Nam. Cuộc chiến kết thúc vào ngày ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi chính quyền tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng trước Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.[38]

Năm 1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt NamViệt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nước Việt Nam thống nhất đổi quốc hiệu thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, do nhiều cuộc chiến tiếp tục nổ ra (chiến tranh biên giới phía Bắc chống Trung Quốc và chiến tranh biên giới Tây Nam chính quyền diệt chủng của Khmer Đỏ) và chính sách kinh tế bao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời bị Hoa Kỳ cấm vận thương mại trong gần hai thập kỷ, do đó Việt Nam vốn đã bị tàn phá bởi chiến tranh nay lại lâm vào các khủng hoảng trầm trọng về kinh tế và xã hội[19] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận chính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội.[39] Giữa thập niên 1990, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Năm 1994, Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ,[19] và một năm sau đó, Việt Nam gia nhập khối ASEAN. Hiện nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc (ECOSOC, UNESCO), Cộng đồng Pháp ngữ, ASEAN, APEC.[40] Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán.[41]

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Việt Nam

Bản đồ địa hình Việt Nam

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng đông nam châu Á. Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này. Việt Nam có đường biên giới đất liền dài 4.550 km: phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp CampuchiaLào và phía Đông giáp biển Đông.[42]

Việt Nam có diện tích 331.698 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường SaHoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếthềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km².

Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng tây bắc, đông bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung BộNam Trung Bộ. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, chôrômát,vàng…Về tài nguyên biển thì có , tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên.Với hệ thống sông, hồ nhiều, đây là tiềm năng cho thủy điện phát triển.

Khí hậu

Bài chi tiết: Khí hậu Việt Nam

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới xavan ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) và khí hậu cận nhiệt đới ẩm ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thumùa đông), còn miền trung và Nam bộ có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bãolụt lội và hứng chịu 5 đến 10 cơn bão/năm.

Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (1964 – 2014).[43]

Phân cấp hành chính

Bản đồ hành chính Việt Nam.

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Việt Nam được chia ra 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương(*) với thủ đô là Hà Nội. 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương của Việt Nam lần lượt (sắp xếp theo bảng chữ cái):

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xãthành phố trực thuộc tỉnh. Tính đến năm 2015, Việt Nam có 713 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, , thị trấn.

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực với các tên gọi khác nhau ở các vùng miền như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Việt Nam

Việt Nam cho tới 2016 là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị đã thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trịĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội Việt Nam. Trên thực tế cho đến nay (2010) các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ từ 90% trở lên[44], những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.

Hội trường Ba Đình

Nhà Quốc hội (thay thế cho Hội trường Ba Đình)

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong điều 4 của Hiến pháp 1992, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin “tập trung dân chủ”, mà không cho phép thành lập một hệ thống đa đảng.[45] Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng bí thư là một trong những người có quyền lực cao nhất Việt Nam, vì đảng duy nhất hợp lệ, cùng với Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp. Tổng bí thư từ đại hội XI (2011) là ông Nguyễn Phú Trọng.

Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiếnlập pháp. Nhiệm vụ của Quốc hội là giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Trên 90% đại biểu quốc hội là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nên quốc hội không có độc lập từ đảng, tuân thủ gần tuyệt đối các quy định của Đảng (tại các nước khác nhóm đại biểu chiếm đa số trong quốc hội cũng thường từ một đảng hay liên minh quyết định đường lối chính sách), tuy nhiên sau thời Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn. Nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm. Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu do đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch Quốc hội hiện nay (2016) là bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Chủ tịch nước, theo hiến pháp là người đứng đầu Nhà nước, nguyên thủ quốc gia nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội bầu do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch nước có 12 quyền hạn theo Hiến pháp trong đó quan trọng nhất là: công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Quốc gia. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Tòa án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại, là chức vụ cao nhất của Nhà nước Việt Nam, thường không giữ kiêm chức Tổng bí thư Đảng (có trường hợp giữ kiêm). Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 5 năm. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Chủ tịch nước. Chủ tịch nước hiện nay (2016) là ông Trần Đại Quang.

Chính phủ, theo hiến pháp là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ chịu sự giám sát và thực hiện chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ Chính phủ là 5 năm. Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương để Quốc hội bầu. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ hiện nay (2016) là ông Nguyễn Xuân Phúc.

Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người giúp việc cho Thủ tướng và được Thủ tướng ủy nhiệm khi Thủ tướng vắng mặt. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao. Việc tổ chức nhân sự cấp cao này đều thông qua Bộ Chính trị và các viên chức này đều do Bộ Chính trị quản lý. Các Thứ trưởng và chức vụ tương đương do Thủ tướng bổ nhiệm, nhưng Ban Bí thư thông qua và quản lý.

Chính phủ Việt Nam có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ. Ngoài ra chính phủ còn quản lý 5 cơ quan hành chính và 3 cơ quan truyền thông trực thuộc là Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam

Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Việt Nam. Chánh án Tối cao là người đứng đầu Tòa án Nhân dân Tối cao. Chánh án Tối cao hiện nay (từ 2016) là ông Nguyễn Hòa Bình.

Quan hệ đối ngoại

Theo các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lậpphát triển“.

Từ sau thời kỳ đổi mới, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995

Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 11 nước châu Đại Dương, 29 nước châu Mỹ, 50 nước châu Phi).[46] thuộc tất cả các châu lục (Châu Á – Thái Bình Dương: 33, châu Âu: 46, Châu Mĩ: 28, châu Phi: 47, Trung Đông: 16), bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ.[40] Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPAUPU.

Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện thông qua việc tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế tại thủ đô Hà Nội

Năm 1997, tổ chức hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ

Năm 1998, tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN

Năm 2003, tổ chức hội thảo quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và châu Phi

Năm 2004, tổ chức Hội nghị cấp cao ASEM vào tháng 10

Năm 2006, tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11.

Từ ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đây là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế.

Năm 2007 tổ chức đăng cai Olympic toán Quốc tế.

Ngày 16 tháng 10 năm 2007, tại cuộc bỏ phiếu diễn ra ở phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Việt Nam chính thức được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009.

Ngày 1 tháng 1 năm 2010, Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN và trong năm đó đã tổ chức nhiều cuộc họp lớn của khu vực.

Ngày 21 tháng 10 năm 2015, tại cuộc bỏ phiếu diễn ra ở phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Việt Nam chính thức bầu làm thành viên của Hội đồng Kinh tế – xã hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018.[47]

Năm 2016, tổ chức Olympic Sinh học Quốc tế.

Kinh tế

Gạo – một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam

Từ ngàn năm nay, Việt Nam là một nước nông nghiệp. Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam năm 1994. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 20002002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn.[khi nào?]

Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng do tình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ cao của thế giới[48][49] cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường nên với con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USD năm 2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam và Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa. Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và chỉ bằng 6,7% so với Singapore[50]

Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau khi đã kết thúc đàm phán song phương với tất cả các nước có yêu cầu (trong đó có những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc). Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007.

Ngày 3 tháng 4 năm 2013, tại một hội thảo tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế của Việt Nam đã nhận định nền kinh tế Việt Nam đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007-2011, chỉ có 1 năm (2008) Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8%. Tuy xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD trong giai đoạn này nhưng mức tăng trưởng lại thấp hơn 5 năm trước khi gia nhập WTO. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60%, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là nông – lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng mạnh, 18 tỷ USD vào năm 2008. Kinh tế Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng bởi giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ 2007-2008 đến nay. Đến năm 2013, sau 7 năm hội nhập, tình hình kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều áp lực, từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.[51]

Về địa lý kinh tế, chính phủ Việt Nam phân chia và quy hoạch thành các vùng kinh tế-xã hội và các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam.

So sánh GDP-PPP giữa Việt Nam và các nước công nghiệp mới qua các năm 1980-2014

So sánh GDP-PPP bình quân đầu người giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á năm 2010
Một số dữ liệu 14 năm gần đây (2000-2014) – Nguồn: TCTK[52]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2014[53]
GDP
(tỷ USD,
làm tròn
)
31 32 35 39 45 52 60 70 89 91 101 180
GDP/đầu người
(USD)
402 416 441 492 561 642 730 843 1052 1064 1168
Tỉ lệ tăng giảm GDP
(tăng giảm % so với năm trước)
6,8 6,9 7,1 7,3 7,8 8,4 8,2 8,5 6,2 5,3 6,7
Xuất khẩu
(tỷ USD,
làm tròn
)
14 15 16 20 26 32 39 48 62 57 71
Nhập khẩu
(tỷ USD,
làm tròn
)
15 16 19 25 31 36 44 62 80 69 84
Chênh lệch–nhập siêu
(tỷ USD,
làm tròn
)
-1 -1 -3 -5 -5 -4 -5 -14 -18 -12 -13
FDI-đăng ký
(tỷ USD,
làm tròn
)
2,8 3,1 2,9 3,1 4,5 6,8 12,0 21,3 71,7 23,1 18,6
FDI-thực hiện
(tỷ USD,
làm tròn
)
2,4 2,4 2,5 2,6 2,8 3,3 4,1 8,0 11,5 10 11
Chênh lệch đăng ký-thực hiện FDI
(tỷ USD,
làm tròn
)
-0,4 -0,7 -0,4 -0,5 -1,7 -3,5 -7,9 -13,3 -60,2 -13,1 -7,6
Kiều hối
(tỷ USD,
làm tròn
)
1,7 1,8 2,1 2,7 3,2 3,8 4,7 5,5 7,2 6,2 8,1
Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
(1000 tỷ VNĐ,
làm tròn
)
220 245 280 333 398 480 596 746 1009 1197 1561
Chỉ số giá tiêu dùng CPI
(tăng giảm % so với năm trước)
-0,6 0,8 4,0 3,0 9,5 8,4 6,6 12,6 19,9 6,5 11,7
Tăng giảm giá USD
(tăng giảm % so với năm trước)
3,4 3,8 2,1 2,2 0,4 0,9 1,0 -0,3 6,3 10,7 9,6
Tăng giảm giá Vàng
(tăng giảm % so với năm trước)
-1,7 5,0 19,4 26,6 11,7 11,3 27,2 27,3 6,8 64,3 30,0

Các tỉnh thành có GDP bình quân đầu người cao nhất (xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp): Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Cần Thơ, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hải Phòng, Tây Ninh, Kiên Giang, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, đạt trên 2450 USD, theo sau là Khánh Hòa, Long An,Quảng Nam, Nam Định…Các tỉnh thành có GDP bình quân đầu người thấp nhất (xếp theo thứ tự từ thấp lên cao): Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, Điện Biên, Bắc Kạn, Yên Bái, Sơn La, Quảng Bình, Ninh Thuận, Nghệ An, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Bình, Đồng Tháp, Phú Yên khoảng dưới 1530 USD, xếp sát là Thanh Hóa, Trà Vinh,…(2015). GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2015 ước đạt 2.109 USD.

Giao thông

Cầu Mỹ Thuận trên quốc lộ 1A

Do đặc thù của địa lý Việt Nam, nên các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắcnam, riêng các tuyến giao thông nội thủy thì chủ yếu theo hướng đôngtây dựa theo các con sông lớn đều đổ từ hướng tây ra biển.

Việt Nam có hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ… có tổng chiều dài khoảng 222.000km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tông hóa, chỉ có một số ít các tuyến đường huyện lộ tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa đang còn là các con đường đất.

Việt Nam có 3.360 km đường bờ biển. Dự kiến quy hoạch chi tiết tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai là tuyến đường bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Mũi Ngọc (xã Bình Ngọc, Móng Cái, Quảng Ninh) tới cửa khẩu Hà Tiên (thị xã Hà Tiên, Kiên Giang) với chiều dài khoảng 3.041 km

Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài 2652 km, trong đó tuyến đường chính Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam. Ngoài ra còn có các tuyến đường sắt ngắn từ Hà Nội đi Hải Phòng (hướng đông), Lạng Sơn (hướng bắc), Lào Cai (hướng tây bắc)

Hệ thống đường hàng không Việt Nam gồm các sân bay quốc tế có các tuyến bay đi các nước và các sân bay nội địa trải đều ở khắp ba miền, 3 sân bay quốc tế hiện đang khai thác là Tân Sơn Nhất (thành phố Hồ Chí Minh), sân bay Đà Nẵng (Đà Nẵng) và Nội Bài (Hà Nội), và các sân bay dự kiến khai thác đường bay quốc tế trong thời gian tới là Cam Ranh (Khánh Hòa), Cát Bi (Hải Phòng) và Phú Bài (Thừa Thiên Huế).

Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển lớn ở 3 miền như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân (miền Bắc), cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn (miền Trung) và cảng Sài Gòn, cảng Thị Vải (miền Nam). Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đôngtây dựa theo các con sông lớn như sông Đà, sông Hồng (miền Bắc), sông Tiền, sông Hậu (miền tây nam bộ), và sông Đồng Nai, sông Sài Gòn (miền đông nam bộ) chảy theo hướng bắc – nam. Việt Nam là nước có nhiều sông ngòi chảy theo hướng tây bắc xuống đông nam. Sông Hồng là sông chính ở miền Bắc chảy vào Việt Nam ở Lào Cai, qua các thành phố lớn Việt Trì, Hà Nội, Nam Định rồi đổ ra biển ở cửa Ba Lạt giữa Thái Bình và Nam Định.

Tăng giảm luân chuyển hành khách qua 10 năm gần đây (2000-2010) – Nguồn:TCTK[52]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Đường bộ (tăng giảm % so với năm trước) 5.2 4.6 9.4 19.0 12.5 12.7 12.9 13.3 9.8 10.2 12.5
Đường sắt (tăng giảm % so với năm trước) 17.6 7.1 7.9 10.1 7.6 4.3 -5.0 7.5 -2.1 -9.3 8.1
Đường thuỷ (tăng giảm % so với năm trước) 1.8 7.3 9.8 -7.4 15.3 7.9 -6.4 -1.2 3.0 5.4 4.1
Đường hàng không (tăng giảm % so với năm trước) 8.4 39.4 16.2 0.1 31.7 18.8 15.2 14.6 10.0 2.2 30.8

Truyền thông

Truyền thông Việt Nam hiện có đủ bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hìnhbáo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời.

Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 65 đài phát thanh – truyền hình, gồm 2 đài phát thanh – truyền hình trung ương (VTV, VOV) và 63 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.[54]

Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo luật pháp Việt Nam, hiện nay chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.

Du lịch

Bài chi tiết: Du lịch Việt Nam

Bãi biển nhiều, một trong những điểm mạnh của Du lịch Việt Nam

Ngành du lịch và dịch vụ đã đóng góp tích cực vào nền kinh tế Việt Nam. Số lượng khách du lịch đến Việt Nam liên tục tăng nhanh trong vòng 10 năm kể từ 2000 – 2010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Đài Loan.[55]

Việt Nam có nhiều điểm du lịch đa dạng từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền núi tới đồng bằng, bãi biển, đảo. Từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử… Các điểm du lịch miền núi nổi tiếng như Sapa, Bà Nà, Đà Lạt, Tam Đảo. Các điểm du lịch ở đồng bằng như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh, Nam Định… Các điểm du lịch ở các bãi biển như Hạ Long, Nha Trang,Phan Thiết, Vũng Tàu, Thịnh Long, Sầm Sơn, Cửa Lò… và các đảo như Cát Bà, Cù lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc,…

Khẩu hiệu ngành du lịch Việt Nam:

  • 2001-2004: Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới
    Vietnam – A destination for the new mellennium
  • 2004-2005: Hãy đến với Việt Nam
    Welcome to Vietnam
  • 2006-2009: Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn
    Vietnam – The hidden charm
  • 2010-nay: Việt Nam – Sự khác biệt Á Đông
    Vietnam – A Different Orient
Khách và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua 10 năm gần đây (2000-2010) – Nguồn: TCTK[52]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượt khách đến Việt Nam (triệu người, làm tròn) 2.1 2.3 2.6 2.4 2.9 3.4 3.5 4.2 4.2 3.7 5.0
Lượt khách đến Việt Nam du lịch(triệu người, làm tròn) 1.1 1.2 1.4 1.2 1.5 2.0 2.0 2.6 2.6 2.2 3.1

Nhân khẩu

Dân số

Tỉ lệ tăng dân số Việt Nam giảm dần trong giai đoạn 1980-2014
Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 71.995.500
1996 73.156.700
1997 74.306.900
1998 75.456.300
1999 76.596.700
2000 77.630.900
2001 78.620.500
2002 79.537.700
2003 80.467.400
2004 81.436.400
2005 82.392.100
2006 83.311.200
2007 84.218.500
2008 85.118.700
2009 86.025.000
2010 86.932.500
2011 87.840.000
2012 88.775.500

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổđồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng…, mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam. Trong số các dân tộc này, người Hoangười Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm trong giai đoạn 1999-2009. Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ 15 trên thế giới về dân số.[57]

Theo điều tra của Tổng cục thống kê (Việt Nam) tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên toàn Việt Nam có 85.846.997 người, quy mô phân bố ở các vùng kinh tế – xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộduyên hải nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người. Theo số liệu ước tính của The World Factbook do CIA công bố thì vào tháng 7 năm 2011, dân số Việt Nam là 90.549.390 người, đứng thứ 14 trên thế giới (Ethiopia vượt lên vị trí 13).[58]

Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2014 thì 33,1% dân số Việt Nam đang sinh sống tại khu vực thành thị và 66,9% cư trú ở khu vực nông thôn.[59] Về tỷ số giới tính trung bình hiện nay[khi nào?] là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và vùng thấp nhất là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ [60]

Tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam đều có tín ngưỡng dân gian từ lâu đời. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Tây lịch (có giả thuyết cho rằng vào thế kỷ I trước Tây lịch), cùng với Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo là tôn giáo chính và quan trọng đặt nền móng cho văn hóa Việt Nam. Sự dung hòa Phật – Nho – Lão tạo thành một nét tôn giáo nền tảng văn hóa độc đáo được gọi là Tam giáo “đồng nguyên”. Thiên chúa giáo cũng như các tôn giáo phương tây như Tin Lành du nhập vào Việt Nam khoảng sau thế kỷ 18, Hồi giáo truyền vào miền Trung vào thời kỳ thịnh vượng của các vương triều Hồi giáo ở Ấn Độ vào đồng bào Chăm. Ngoài ra, dung hợp và biến thể của các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài (dung hòa giữa Phật giáo, Thiên chúa giáo và Lão giáo cùng với các niềm tin khác, tuy nhiên khác với Phật giáo, đạo Cao Đài là tôn giáo thờ thần) và đạo Hòa Hảo (phát triển từ tứ ân của nhà Phật, hình thành triết lý giáo dục con người dựa trên lời dạy của giáo chủ). Bên cạnh đó, có một lượng đáng kể người dân tự nhận mình là người không tôn giáo.

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục Việt Nam

Đại Học Bách Khoa Hà Nội (C1)

Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục. Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục ngày càng tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[61]

Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang cố gắng hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên Thế giới. Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường Đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà NộiTP.Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố ngày 3/12/2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[62] Tuy nhiên có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục của Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ giáo dục Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước đó[63][64].

Về nền giáo dục bậc đại học, hiện nay Việt Nam có tổng số 376 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, trong đó bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54 trường, các Bộ, ngành khác quản lý 116 trường.Các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản của 125 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long (hiện nay là Trường Đại học Thăng Long) như một mô hình giáo dục đại học mới, đánh dấu sự ra đời của trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam. Tính đến hiện nay toàn Việt Nam có 81 trường dân lập, tư thục. Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng 1.800.000 người, số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000 người/kỳ thi. Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước.[65] Nhưng nhà nước Việt Nam đang tích cực cải cách hệ thống giáo dục đại học bằng việc trao thêm quyền cho các trường đại học. Điều 32 Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 quy định “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.“. Điều 36 luật này cũng quy định “Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, duyệt giáo trình giáo dục đại học để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập trong cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập.“, tuy nhiên “Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị, quốc phòng – an ninh để làm tài liệu giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đại học“.[66] Các lãnh đạo hàng đầu của Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ tự chủ đại học và yêu cầu thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này.[67] Tuy nhiên có ý kiến cho rằng các trường đại học Việt Nam chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng cho việc tự chủ[68][69], các điều khoản trong Luật Giáo dục Đại học cho thấy quyền tự chủ của các trường đại học khó có thể trở thành hiện thực vì có quá nhiều điểm hoàn toàn trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi.[70]

Từ năm 2000 tới nay, nhiều học sinh Việt Nam đã đi du học ở các nước phát triển như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Đức, Nhật… Riêng năm 2007 đã có 39.700 học sinh đi du học [71]

Y tế

Một bệnh viện tại TP.Hồ Chí Minh

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010 trên toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[72] với tổng số giường bệnh khoảng 246.300 giường.[73] Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện Nhà nước[74][75]

Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia, tuy nhiên sự phát triển chưa đồng đều ở mỗi cấp, vùng, miền. Việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ người dân chưa đảm bảo[76]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học Y, Dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩdược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại[74]

Ngành Y tế hiện tại của Việt Nam đang được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010 Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tỷ USD, các dự án được phân bố ở đều khắp các vùng miền[77]

Tuy là một ngành thiết yếu đối với đời sống dân chúng, nhận được nhiều sự đầu tư từ ngân sách của nhà nước Việt Nam cũng như các tổ chức nước ngoài, nhưng những năm gần đây bị đánh giá là bị tham nhũng ở nhiều cấp độ, có tính chất nghiêm trọng, được tìm thấy trong cả ba lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế[78]

Tội phạm và tệ nạn

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức rất thấp so với các nước có cùng trình độ phát triển, thậm chí là thấp hơn so với nhiều quốc gia phát triển.[79] Các băng nhóm tội phạm có tổ chức như Năm Cam, Khánh Trắng… là khá hiếm, quy mô và độ tinh vi cũng còn xa mới sánh được với các tổ chức Mafia quốc tế.

Tuy nhiên, Việt Nam là địa điểm thuận lợi cho những đầu dây tội phạm trong và ngoài nước lộng hành để lợi dụng cho mục đích cá nhân đặc biệt là các đầu dây mại dâm, ma túy.[80] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy khét tiếng như Tam giác vàngTrăng lưỡi liềm vàng (Golden Crescent). Theo nhiều nhà quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp do đó càng phải đề cao cảnh giác và nâng cao tinh thần trách nhiệm chống ma túy của quần chúng và đồng thời đẩy mảnh sự hợp tác phòng chống ma túy quốc tế.[80] Gần đây Việt Nam cũng tham gia các hội nghị quốc tế để bàn thảo về các vấn đề trên như “Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông” (IDEC FEWG) do Việt Nam chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lận cận. Theo thống kê thì tính tới cuối năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[80]

Các tệ nạn phổ biến nhất bao gồm cờ bạc, cá độ, sử dụng và buôn bán ma túy, mại dâm… Do sự phát triển mạnh của quá trình phát triển kinh tế – xã hội khiến cho tình hình tội phạm có xu hướng tăng cao, do đó Chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng hạn chế các loại tệ nạn đảm bảo an ninh, trật tự cho người dân. Việt Nam là một nước rất phổ biến về hoạt động thể dục thể thao trong đó bóng đá là phổ biến có nhiều người tham gia và hâm mộ nhiều nhất, do đó các tệ nạn liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá.[81] Hiện nay,[khi nào?] trong quá trình hội nhập trong nhiều lĩnh vực với thế giới, các cơ quan nhà nước và các tổ chức cá nhân đầu tư cho thể thao Việt Nam vẫn đang cố gắng hoàn thiện tổ chức và quản lý cho bóng đá nói riêng và cả nền thể dục thể thao nước nhà nói chung.

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Việt Nam

Múa rối nước, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian của Việt Nam.

Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người

Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.

Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng với các đô thị chính: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,Hải Dương…và vùng nông thôn của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắcđông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người ChămNam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.

Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Thể thao

Môn thể thao truyền thống thịnh hành từ ngàn đời này ở Việt Nam là võ thuật. Ngoài võ thuật, những môn mang tính cổ truyền khác như đá cầu, cầu mây hay cờ tướng đều được nhiều người yêu thích. Trong khi hiện tại thì môn bóng đá được nhiều người chơi và xem nhất.[82] Bóng đá được nhiều người Việt Nam hâm mộ tới mức báo chí nước ngoài ví gần như là một thứ “tôn giáo” với người dân.Bóng đá phát triển đầu tiên từ các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh..từ đầu thế kỉ 20.. Mỗi thành công hay thất bại của đội tuyển bóng đá quốc gia hay U23 Việt Nam, diễn biến của các giải đấu lớn cấp Quốc tế và các giải khác ở châu Âu… đều được dư luận đặc biệt quan tâm.

Những năm gần đây, tennis cũng bắt đầu phổ biến ở các thành phố lớn. Ngoài ra, một số môn thể thao khác cũng đã thịnh hành từ rất lâu ở Việt Nam như cầu lông, bóng chuyền, bóng bàn, billiards snookercờ vua. Đoàn thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay.[83] và đã có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất cho đến năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng.

Các ngày lễ chính

Ngày tháng Số ngày Tên Ghi chú
1 tháng 1 1 Tết Dương Lịch
30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 1 5 Tết Nguyên Đán Âm lịch
10 tháng 3 1 Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương Âm lịch
30 tháng 4 1 Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước-Ngày Chiến thắng
1 tháng 5 1 Ngày Quốc tế Lao động
2 tháng 9 1 Quốc khánh

Xếp hạng quốc tế

Tổ chức Nghiên cứu Xếp hạng
Viện Kinh tế và Hoà bình IEP Chỉ số hòa bình toàn cầu 45 trên 162[84]
Heritage Foundation/The Wall Street Journal Chỉ số tự do kinh tế 148 trên 178[85]
The Economist Chỉ số chất lượng cuộc sống, 2005 61 trên 111
Phóng viên không biên giới Chỉ số tự do báo chí toàn cầu 174 trên 180[86]
Tổ chức Minh bạch Quốc tế Chỉ số nhận thức tham nhũng 112 trên 168[87]
Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc Chỉ số Phát triển Con người 121[88]
Diễn đàn Kinh tế thế giới Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 65 trên 142[89]
ETH Zürich Chỉ số toàn cầu hóa 126 trên 208[90]
Diễn đàn Kinh tế thế giới Chỉ số bất bình đẳng nam nữ
(Global Gender Gap Report)
72 trên 134[91]
IFPRI Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) 25 trên 81[92]
Đại học Yale & Đại học Columbia Chỉ số hiệu suất môi trường 136[93]

Xem thêm

Chú thích

Ghi chú
  1. ^ Bộ Ngoại giao. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập 19 tháng 3 năm 2012.
  2. ^ “Vietnam – Geography”. Index Mundi. 12 tháng 7 năm 2011.
  3. ^ “Thông cáo báo chí”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 28 tháng 7 năm 2014.
  4. ^ a ă â b “World Economic Outlook Database, October 2016: Vietnam”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Truy cập 18 tháng 1 năm 2017.
  5. ^ “2016 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2017.
  6. ^ “Gini Index (estimate)”. Ngân hàng Thế giới. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  7. ^ “Tầm quan trọng của đảo và quần đảo ở Việt Nam”, tiến sĩ Trần Nam Tiến, báo Tuổi Trẻ ngày 27 tháng 8 năm 2012.
  8. ^ Một số thông tin cơ bản về Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam. tr. 25.
  9. ^ a ă “Vietnam’s new-look economy”. BBC. 18 tháng 10 năm 2004.
  10. ^ “Distribution of Family Income – Gini Index”. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 27 tháng 11 năm 2011.
  11. ^ “ScienceDirect – Journal of Econometrics: On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam”. Science Direct. 12 tháng 9 năm 2002. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011.
  12. ^ Gallup, John Luke (2002). “The wage labor market and inequality in Viet Nam in the 1990s”. REPEC. Truy cập 7 tháng 11 năm 2010.
  13. ^ a ă Xuanjun Xie. “日本”起源于中国考 A Research On Japan’s Origin with China. Google 图书. 第179页.
  14. ^ 郭振铎, 张笑梅. 越南通史. 北京: 中国人民大学出版社, năm 2001. ISBN 7-300-03402-0. Trang 536.
  15. ^ Woods 2002, tr. 38
  16. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 117
  17. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 126
  18. ^ a ă “CIA Factbook: Vietnam”. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  19. ^ a ă â F. Martin, Michael (29 tháng 10 năm 2009). “U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress” (PDF). CRS Report for Congress.
  20. ^ a ă â b “Origin of Vietnamese People”. American Technologies, Inc. (Business Collaboration Services). Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010.
  21. ^ Cooke, Li & Anderson 2011, tr. 46
  22. ^ Ngô Văn Thạo, tr. 823-824
  23. ^ “History of Vietnam: Chinese Colonization”. Windows on Asia (Asian Studies). Lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007.
  24. ^ Hà Anh Thư 2000, tr. 29
  25. ^ “Spears offer insight into early military strategy”. Thông tấn xã Việt Nam (tiếng Anh), 22 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  26. ^ Việt Nam sử lược (越南史略), Trần Trọng Kim tr. 99.
  27. ^ Eugene Page & M. Sonnenburg, tr. 723
  28. ^ Đại Việt sử lược, tr. 52
  29. ^ “French Counterrevolutionary Struggles: Algeria and Indochina” (PDF). Học viện Quân đội Hoa Kỳ (1968), lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011.
  30. ^ Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Vũ Mạnh Lợi (1995). “Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate” (PDF). 21 (4): 783–812. JSTOR 2137774.
  31. ^ Cựu hoàng Bảo Đại và những canh bạc đế vương
  32. ^ Nash, Gary B., Julie Roy Jeffrey, John R. Howe, Peter J. Frederick, Allen F. Davis, Allan M. Winkler, Charlene Mires, and Carla Gardina Pestana. The American People, Concise Edition Creating a Nation and a Society, Combined Volume (ấn bản thứ 6). New York: Longman, 2007.
  33. ^ Robert C. Doyle (2010). The Enemy in Our Hands: America’s Treatment of Enemy Prisoners of War from the Revolution to the War on Terror. Đại học Kentucky. tr. 269. ISBN 978-0-8131-2589-3.
  34. ^ “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trần Trọng Tân, Tạp chí Mặt Trận (số 86, tháng 12 năm 2010).
  35. ^ “Vietnam War”, Clark D. Neher, Đại học Bắc Illinois (Hoa Kỳ).
  36. ^ “The Massacre at Huế”. Tạp chí Time đăng ngày 31 tháng 10 năm 1969.
  37. ^ http://tapchiqptd.vn/vi/an-pham-tap-chi-in/su-menh-lich-su-cua-chinh-phu-cach-mang-lam-thoi-cong-hoa-mien-nam-viet-nam-trong-cuoc-kha/3086.html
  38. ^ Malcolme W. Browne (13 tháng 10 năm 1999). “Saigon’s Finale”, đăng trên báo The New York Times.
  39. ^ “Đổi mới bắt đầu từ đâu?”. Báo Cần Thơ đăng tải ngày 19 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2005.
  40. ^ a ă “Các tổ chức quốc tế”, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015.
  41. ^ “Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO” (Thông cáo báo chí). Xuân Danh, Báo Thanh niên. 8 tháng 11 năm 2006. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011.
  42. ^ “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Bộ Ngoại giao). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015.
  43. ^ Biến đổi khí hậu trong quá khứ và tương lai ở Việt Nam Mỹ Xuân – EINFO (Dựa trên đề tài nghiên cứu của Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) 05/11/2014, 20:44:23
  44. ^ Đa số đại biểu trúng cử Quốc hội là Đảng viên VOA Thứ Ba, 29 tháng 5 năm 2007
  45. ^ The Limits and Potential of Liberal Democratisation in Southeast Asia uni-hamburg, 10.12.2014
  46. ^ Theo trang web chính thức của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Quan hệ ngoại giao, truy cập 22/7/2015
  47. ^ “iệt Nam đã trúng cử Hội đồng Kinh tế – xã hội LHQ”.
  48. ^ “Tham nhũng trong mắt người dân đô thị VN” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 16 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  49. ^ “Việt Nam tham nhũng thứ ba châu Á?” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  50. ^ GDP per capita, PPP (current international $) cập nhật 14/4/2015, truy cập 20/4/2015
  51. ^ “Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO” (Thông cáo báo chí). VnExpress. Ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  52. ^ a ă â Niên giám các năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, Tổng cục Thống kê
  53. ^ Niên giám thống kê tóm tắt 2014
  54. ^ “Vì sao cần tăng cường quản lý báo điện tử?” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Công Dũng, Tạp chí Cộng sản. Ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  55. ^ “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập 1 tháng 12 năm 2014.
  56. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  57. ^ The World Factbook CIA cập nhật tháng 7 năm 2014
  58. ^ Vietnam – Geography. Index Mundi. ngày 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011.
  59. ^ “Dân số Việt Nam vượt mốc 90 triệu người”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 16 tháng 8 năm 2015.
  60. ^ BÁO CÁO KẾT QUẢ CHÍNH THỨC Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 7/2010
  61. ^ Niên giám Thống kê 2013, Trung tâm Tư liệu Thống kê – Tổng cục Thống kê Việt Nam
  62. ^ Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học, Xuân Vũ, Báo điện tử Dân trí, 04/12/2013
  63. ^ Việt Nam vượt Mỹ, Úc nhờ… luyện ‘gà chọi’?, Vietnamnet, 18/05/2015
  64. ^ Bộ Giáo dục bất ngờ với kết quả xếp hạng học sinh, Vietnamnet, 04/12/2013
  65. ^ VnExpress – 30 năm chất lượng giáo dục đại học bị ‘bỏ ngỏ’ – 30 nam chat luong giao duc dai hoc bi ‘bo ngo’ Tiến Dũng, Thứ sáu, 30/10/2009 | 09:11 GMT+7
  66. ^ Luật số 08/2012/QH13 của Quốc hội: LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012
  67. ^ Thủ tướng thúc nhanh việc trao tự chủ đại học, Báo VietNamNet, 26/08/2014
  68. ^ Thiếu sẵn sàng tự chủ ĐH, Tuổi Trẻ Online, 01/08/2014
  69. ^ Tự chủ đại học – cái nhìn từ nhiều phía, Tuổi Trẻ Online, 08/01/2013
  70. ^ Tự chủ đại học ở Việt Nam: Thiếu thực chất, Vũ Thị Phương Anh, Tạp chí Tia Sáng, 22/08/2014
  71. ^ Muôn nẻo đường du học Cập nhật: Thứ ba, 04-03-2008 theo giaoduc.edu.vn
  72. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  73. ^ “Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  74. ^ a ă Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui Thái Bình, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống cập nhật 1/9, 2014 | 06:00
  75. ^ PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TRONG CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM 01/03/2010 10:31:40 AM ghi lại Bài phát biểu của TS. Nguyễn Quốc Triệu – Bộ trưởng Bộ Y tế tại Phủ Chủ tịch nhân Lễ kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam chiều 24/02/2010
  76. ^ VOVNEWS.VN | Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy – Nganh Y te 55 nam lam theo loi Bac day Văn Hải hứ 7, 16:30, 27/02/2010
  77. ^ Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ ĐCSVN 21:04 | 04/02/2010
  78. ^ Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng – Tuổi Trẻ Online Minh Quang 26/11/2009 22:48 GMT+7
  79. ^ Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel | Tuổi Trẻ news cập nhật 10/21/2012 14:08 GMT + 7
  80. ^ a ă â Khánh Hiền (5 tháng 12 năm 2012). “Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm “nóng” tội phạm ma túy – Pháp luật – Dân trí”. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015.
  81. ^ “Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài – VnExpress”. VnExpress. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  82. ^ “Soccer is very popular in Vietnam”. SaigonNezumi.com. Ngày 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  83. ^ “BBC Vietnamese – Thể thao – TQ hay Mỹ sẽ đứng đầu bảng Olympic?”. BBC Online. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  84. ^ Vision of Humanity
  85. ^ Country Rankings, truy cập 11/4/2015
  86. ^ “World Press Freedom Index 2014. Trang 31” (PDF) (Thông cáo báo chí). Phóng viên không biên giới. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2015.
  87. ^ “CORRUPTION PERCEPTIONS INDEX 2015” (Thông cáo báo chí). Tổ chức Minh bạch Quốc tế. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2016.
  88. ^ Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. “Human Development Indicators” (bằng tiếng Anh). Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014.
  89. ^ “The Global Competitiveness Index 2011-2012 rankings” (PDF) (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  90. ^ “2013 KOF Index of Globalization (Rankings are based on data for the year 2010 – Xếp hạng dựa trên dữ liệu năm 2010)” (PDF) (Thông cáo báo chí). KOF. 2013.
  91. ^ “The Global Gender Gap Report 2010” (PDF) (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  92. ^ “2011 Global Hunger Index” (PDF) (Thông cáo báo chí). IFPRI. 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  93. ^ “Country Profile: Viet Nam” (Thông cáo báo chí). EPI. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014.
Nguồn tham khảo
  • Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: a global studies handbook. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-416-1.
  • Yue-Hashimoto, Oi-kan (1972). Phonology of Cantonese. Đại học Cambridge (Anh Quốc). ISBN 978-0-521-08442-0.
  • Tonnesson, Stein; Antlov, Hans (1996). Asian Forms of the Nation. Routledge. ISBN 0700704426.

Tham khảo

  • Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch, Nhà xuất bản Hà Nội 2007
  • Herring, George C. America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (4th ed 2001), most widely used short history. ISBN 978-0072536188
  • Jahn GC. 2006. The Dream is not yet over. In: P. Fredenburg P, Hill B, editors. Sharing rice for peace and prosperity in the Greater Mekong Subregion. Victoria, (Australia): Sid Harta Publishers. p 237-240
  • Karrnow, Stanley. Vietnam: A History. Penguin (Non-Classics); 2nd edition (ngày 1 tháng 6 năm 1997). ISBN 0-14-026547-3
  • McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook ISBN 9780618749379
  • Tucker, Spencer. ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1998) 3 vol. reference set; also one-volume abridgment (2001) ISBN 1851099611
  • Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 9th edition, Oxford University Press.

Liên kết ngoài

Nhà nước Việt Nam
Thông tin chung
Truyền thông
Cơ quan truyền thông thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam
Cơ quan truyền thông thuộc Chính phủ Việt Nam
Cơ quan truyền thông của các tổ chức nhà nước khác

Những cơ quan truyền thông này được hoạt động độc lập hơn các cơ quan truyền thông nêu phía trên.

Khác

Tin sáng Việt Nam tổ quốc tôi

BienQueHuong
VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI Những bài viết mới
Tình yêu cuộc sống bài mới nhất bấm vào đây

Bài viết nhiều người đọc

Suy ngẫm từ núi Xanh Bắc Kinh

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI.  Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có hai cuốn sách lớn “Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu” và Những Suy tư từ sông Dương Tử góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Tư tưởng và đường lối chính trị của vị lãnh tụ này hiện còn là điều bí ẩn. Thế giới chỉ có thể suy đoán và hiểu người qua việc làm và dư luận.

Peter Martin và David Cohen có bài viết : Mao and Forever: Xi Jinping’s Authoritarian Reforms Những cải cách độc đoán của Tập Cận Bình: theo Mao và mãi mãi theo Mao“, người dịch Huỳnh Phan. Bài nghiên cứu giúp chúng ta một góc nhìn đối thoại. Mao Trạch Đông là một nhân vật hiếm có trong lịch sử, nghìn năm công tội. Thời gian và sự khen chê không thể xóa nhòa những dấu ấn nổi bật của Mao. Chọn theo Mao là chọn theo đường lối thực tiễn “có lý, có lợi, đúng lúc”. (Từ đỉnh núi Xanh nhìn về Thiên An Môn, ảnh Hoàng Kim).

Tôi dạo chơiThiên An Môn, Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn trong ngày Quốc tế Lao động, ngắm những nơi lưu dấu các di sản của những triều đại hiển hách nhất Trung Hoa, lắng nghe đất trời và các cổ vật kể chuyện. Tôi ngắm nhìn người nghệ sĩ nhân gian, vui cùng ông và đùa cùng trẻ thơ. Ngày trước đó, tôi vinh hạnh được làm việc với giáo sư Zhikang Li, trưởng dự án Siêu Lúa Xanh  (Green Super Rice) chương trình nghiên cứu lúa nổi tiếng của CAAS, IRRI và có cơ hội tiếp cận với các nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc.

Suy ngẫm từnúi Xanh (景山, Jǐngshān, Cảnh Sơn, Green Mount), ngọn núi địa linh của đế đô Bắc Kinh, tôi tâm đắc lời nhắn gửi sâu xa của bậc hiền minh lỗi lạc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn an sao lại bắt dân ghê mình”  “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững trị bình)  (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình).Suy ngẫm về cuộc cách mạng Xanh và và đỉnh cao Hòa Bình .

Lời giáo sư Norman Borlaug văng vẳng bên tai tôi:“Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.” Sự hiền minh lỗi lạc của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, và di sản vô giá của giáo sư Norman Borlaug cùng với các bậc Thầy về cách mạng xanh mãi mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta !

 

Hoàng Kim. Suy ngẫm từ núi Xanh, Bắc Kinh

(Reflections from the Green Mount, Beijing)

Việt Nam thông tin khái quát

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI
Việt Nam thông tin khái quát
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim
(thu thập, tổng hợp, biên soạn)

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI  là trang thông tin khái quát kết nối với các trang Nong Lam University in Ho Chi Minh TS. Hoàng Kim Học tiếng Trung Việt Dạy và học Cây Lương thực Việt Nam (www.foodcrops.vn) Tình yêu cuộc sống CNM365 nhằm tìm hiểu và giới thiệu về Việt Nam Đất nước Con người, Ngôn ngữ Nông nghiệp Du lịch Sinh thái, Lịch sử Địa lý Giáo dục Văn hóa, Kinh tế Xã hội Truyền Thông Ebook.

Việt Nam Đất nước Con người câu hỏi thường gặp đầu tiên là Việt Nam thông tin khái quát. Trả lời câu hỏi này, nguồn trích dẫn chính được sử dụng là tài liệu Việt Nam Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia Tiếng Việt, đối chiếu với ngôn ngữ khác đặc biệt là Việt Nam học tiếng Anh English và tiếng Trung 中文 làm định hướng, sau đó đi thẳng vào những trang liên kết trong và ngoài nước để liên tục bổ sung hoàn thiện thêm. Tài liệu do nhóm ngghiên cứu Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim đồng thực hiện liên kết với việc giảng dạy ngôn ngữ với nông nghiệp du lịch sinh thái ở Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn và tài liệu Ebook Việt đọc thêm, ‘lớp học trên đồng’ cho sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chi Minh. Mời các bạn cùng học cùng đọc và trao đổi, hiệu đính, bổ sung thông tin tại đây hoặc trên trang KimFacebook, Dạy và Học

Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía đông, giáp với Lào và Campuchia, thuộc bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á thuộc châu Á. Thông tin VIỆT NAM trên Wikipedia tiếng Việt đến 3 tháng 8 năm 2013 được trích  dẫn đầy đủ như sau:

Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Flag of Vietnam.svg Coat of arms of Vietnam.svg
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Việt Nam
Vị trí của Việt Nam trên thế giới
Vị trí của Việt Nam
Vị trí của Việt Nam trong ASEAN
Khẩu hiệu
Độc lậpTự doHạnh phúc
Quốc ca
Trình đơn
0:00

Tiến quân ca

Hành chính
Chính phủ Xã hội chủ nghĩa một đảng
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
Lập pháp Quốc hội Việt Nam
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Việt
Thủ đô Hà Nội
698) 21°2′B, 105°51′Đ
Thành phố lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh[1]
Địa lý
Diện tích 331 698 km² (phần đất liền)[2]
128,565 mi² (hạng 66)
Diện tích nước 6,4[3] %
Múi giờ Giờ chuẩn Đông Dương (UTC+07:00)
Lịch sử
2/9/1945 Lễ Độc lập, Quốc khánh
30/4/1975 Thống nhất đất nước
2/7/1976 Thống nhất quốc hiệu
Dân cư
Tên dân tộc Người Việt/Người Kinh
Dân số ước lượng (2014) 90.730.000[4] người (hạng 13)
Dân số (Tháng 4, 2014) 90.493.352 người
Mật độ 274 người/km² (hạng 52)671 người/mi²
Kinh tế
GDP (PPP) (2014) Tổng số: 509 tỷ USD (hạng 36)
Bình quân đầu người: 5.500 USD
GDP (danh nghĩa) (2014) Tổng số: 187 tỷ USD (hạng 56)
Bình quân đầu người: 2.000 USD
HDI (2013) đứng yên 0,638[5] trung bình (hạng 121)
Hệ số Gini (2010) (trung bình) (hạng 54)
Đơn vị tiền tệ Đồng (₫) (VND)
Thông tin khác
Tên miền Internet .vn
Mã điện thoại 84
Theo tên chính thức và Hiến pháp 1992

Việt Nam, tên chính thức: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam[2], là một quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Việt Nam phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp LàoCampuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo,[6] bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²). Trên biển Đông có quần đảo Trường SaHoàng Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng vẫn đang bị tranh chấp với các quốc gia khác như Đài Loan, Trung Quốc, MalaysiaPhilippines.

Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam giành chiến thắng trước Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai miền Bắc-Nam được thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976 nước Việt Nam được đặt Quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Vào năm 1986, Việt Nam tiến hành một số cải cách về kinh tế (gọi là đổi mới), mở cửa cho nền kinh tế Việt Nam hòa nhập với quốc tế.[7] Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, quan hệ kinh tế – thương mại – đầu tư với trên 224 quốc giavùng lãnh thổ, là thành viên Liên Hợp Quốc, ASEAN, ASEM, APEC, WTO, Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Phong trào không liên kết và nhiều tổ chức quốc tế, khu vực khác [8]… Kể từ năm 2000 Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới,[7] và theo Citigroup, mức tăng trưởng cao này sẽ còn tiếp tục phát triển. Theo BBC, năm 2004, Việt Nam đứng thứ 11 trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới.[9], tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chậm lại trong một số năm sau, năm 2013 tăng trưởng 5,42%, xếp thứ 6 trong 11 nước khu vực Đông Nam Á. Việc đổi mới kinh tế thành công đã dẫn đường cho Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề như tỷ lệ lạm phát cao, bất bình đẳng về thu nhập cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe kém và tình trạng bất bình đẳng giới tính còn nhiều.[10][11][12][13][14]

Mục lục

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Việt Nam

Theo truyền thuyết về thời Hồng Bàng, cách đây hơn 4000 năm[15] các tộc người Việt cổ (Bách Việt) đã xây dựng nên nhà nước Xích Quỷ có lãnh thổ rộng lớn tại khu vực ngày nay là miền nam sông Dương Tử (Trung Quốc).[16] Tới thế kỷ 7 trước công nguyên (TCN), người Lạc Việt, một trong những nhóm tộc Việt ở phía nam đã lập nên nhà nước Văn Lang tại khu vực mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam, và kế tiếp là nhà nước Âu Lạc vào giữa thế kỷ 3 trước công nguyên[17]

Bắt đầu từ thế kỷ 2 TCN, người Việt ở đây bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị trong hơn 1000 năm. Sau nhiều lần khởi nghĩa không thành của Bà Triệu, Mai Thúc Loan,…hoặc chỉ giành độc lập ngắn của Hai Bà Trưng, Lý Bí… đến năm 905 Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự chủ cho người Việt, và Việt Nam chính thức giành được độc lập lâu dài sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy trước đoàn quân Nam Hán năm 938.

Sau khi giành được độc lập, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14 dân tộc Việt Nam đã xây dựng đất nước trên cơ sở Phật giáo, tổ chức chính quyền tương tự thể chế chính trị của các triều đại Trung Quốc, ảnh hưởng của Nho giáo dần tăng lên từ thế kỷ 15. Trong suốt thời kỳ phong kiến, những lần chống lại sự xâm lược bởi các triều đại phương Bắc của người Hán, Mông Cổ, Mãn Thanh và với những lần xâm chiếm mở rộng lãnh thổ dần xuống phía nam nơi người Chăm, người Khmer sinh sống, Việt Nam có ranh giới địa lý gần như hiện nay[khi nào?] vào năm 1757

Đến giữa thế kỷ 19, cùng với các nước ở Đông Dương, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Trong Thế chiến thứ hai, phát xít Nhật chiếm Việt Nam và toàn thể Đông Dương, ngay sau khi hay tin đế quốc Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Việt Minh đã giành lại chính quyền từ tay Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước tự chủ đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại.

Sau Thế chiến thứ hai, người Pháp muốn chiếm lại thuộc địa Đông Dương nhưng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người Việt Nam do lực lượng Việt Minh lãnh đạo. Sau chiến thắng của Việt Minh tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève được ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của thực dân Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia nước Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự cho Quân Đội Nhân Dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp ở phía nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, dự kiến sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước.

Tuy nhiên, vì nhiều tác nhân bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp chính trị của Hoa Kỳ và sự bác bỏ tổng tuyển cử toàn quốc của chính quyền Ngô Đình Diệm nên trong hoàn cảnh lịch sử đó, hiệp định Genève đã không được thực thi. Chính thể Việt Nam Cộng hòa, thành lập ở miền Nam, được Hoa Kỳ hậu thuẫn và được công nhận bởi nhiều quốc gia thân Mỹ, với một chính quyền nằm trong tay những người không tham gia chiến tranh chống xâm lược hoặc thậm chí đã từng cộng tác với Pháp. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam được Liên Xô, Trung Quốc hậu thuẫn và được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ.

Năm 1960, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập từ những người kháng chiến chống Pháp cũ, xung đột ở miền Nam Việt Nam dẫn đến một cuộc chiến tranh kéo dài suốt gần hai thập kỷ. Năm 1964, Hoa Kỳ chính thức can thiệp quân sự, đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại chiến trường Nam Việt Nam và thực hiện các đợt ném bom vào miền Bắc Việt Nam, đặc biệt có sử dụng máy bay B-52 vào năm 1972. Đến tháng 1 năm 1973, sau những tổn thất vượt ngưỡng chịu đựng trên chiến trường Việt Nam, cùng với những khó khăn trên chính trường Mỹ cộng với tác động của phong trào phản chiến trong nước và trên thế giới, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris, và rút quân khỏi Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi chính quyền tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng trước lực lượng Quân Giải phóng Miền Nam tiến vào Sài Gòn.

Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất đổi quốc hiệu thành nước “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”; Sài GònChợ Lớn đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, do nhiều chính sách sai lầm của lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, đã đưa Việt Nam vào các khủng hoảng trầm trọng về kinh tế và xã hội trong gần 10 năm. Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận chính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội. Giữa thập niên 1990, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Năm 1995, Việt Nam gia nhập khối ASEAN, sau khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ một năm trước đó. Hiện nay,[khi nào?] Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Cộng đồng Pháp ngữ, ASEAN, APEC. Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán.[18] Vào ngày 16 tháng 10 năm 2007 Việt Nam đã được bầu làm một trong các thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho nhiệm kỳ 2008-2009.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Việt Nam

Bản đồ địa hình Việt Nam phân đất liền

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng đông nam châu Á. Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này. Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km) và Campuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển Đôngvịnh Thái Lan.

Việt Nam có diện tích 331.698 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường SaHoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếthềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km².

Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng tây bắc, đông bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung BộNam Trung Bộ. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới xavan ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) và khí hậu cận nhiệt đới ẩm ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thumùa đông), còn miền trung có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm,số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bãolụt lội với 5 đến 10 cơn bão/năm.

Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, măng gan, bô xít, chrômát,… Về tài nguyên biển có dầu mỏ, khí tự nhiên, quặng khoáng sản ngoài khơi. Với hệ thống sông dốc đổ từ các cao nguyên phía tây, Việt Nam có nhiều tiềm năng về phát triển thủy điện.

Nhân khẩu học

Tỉ lệ tăng dân số Việt Nam giảm dần trong giai đoạn 1980-2014
Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 71.995.500
1996 73.156.700
1997 74.306.900
1998 75.456.300
1999 76.596.700
2000 77.630.900
2001 78.620.500
2002 79.537.700
2003 80.467.400
2004 81.436.400
2005 82.392.100
2006 83.311.200
2007 84.218.500
2008 85.118.700
2009 86.025.000
2010 86.932.500
2011 87.840.000
2012 88.775.500

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổđồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng…, mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam. Trong số các dân tộc này, người Hoangười Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm trong giai đoạn 1999-2009. Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ 15 trên thế giới về dân số.[20]

Theo điều tra của Tổng cục thống kê (Việt Nam) tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên toàn Việt Nam có 85.846.997 người, quy mô phân bố ở các vùng kinh tế – xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộduyên hải nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người. Theo số liệu ước tính của The World Factbook do CIA công bố thì vào tháng 7 năm 2011, dân số Việt Nam là 90.549.390 người, đứng thứ 14 trên thế giới (Ethiopia vượt lên vị trí 13).[3]

Cũng theo cuộc điều tra thì Việt Nam có khoảng 25,4 triệu người, tương ứng với 29,6% sống ở khu vực thành thị và khoảng 60,4 triệu người cư trú ở khu vực nông thôn. Về tỷ số giới tính trung bình hiện nay[khi nào?] là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và vùng thấp nhất là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ [21]

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Việt Nam

Múa rối nước, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian của Việt Nam

Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người

Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 53 dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.

Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắcđông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người ChămNam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.

Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam đều có tín ngưỡng dân gian từ lâu đời. Cùng với các tôn giáo lớn của thế giới như Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đàiđạo Hòa Hảo. Bên cạnh đó, có một lượng đáng kể người dân tự nhận mình là người không tôn giáo.

Phân cấp hành chính

Bản đồ hành chính Việt Nam.

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Việt Nam được chia ra 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương(*) với thủ đô là Hà Nội. 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương của Việt Nam lần lượt (sắp xếp theo bảng chữ cái):

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xãthành phố trực thuộc tỉnh. Tính đến năm 2011, Việt Nam có 698 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, , thị trấn.

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực với các tên gọi khác nhau ở các vùng miền như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Việt Nam

Việt Nam hiện nay[khi nào?] là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị đã thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trịĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội Việt Nam. Trên thực tế cho đến nay (2010) các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ từ 90% trở lên[22], những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong điều 4 của Hiến pháp 1992. Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là một Tổng bí thư nắm giữ chức vụ tối cao, quyền hạn rất lớn vì đây là đảng duy nhất hợp lệ cùng với quốc hội, chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp. Tổng bí thư hiện nay[khi nào?] tại đại hội XI (2011) là ông Nguyễn Phú Trọng.

Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiếnlập pháp. Nhiệm vụ của Quốc hội là giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Trên 90% đại biểu quốc hội là Đảng viên Đảng CSVN nên quốc hội không có độc lập từ đảng, tuân thủ gần tuyệt đối các quy định của Đảng. Nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm. Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu do đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch Quốc hội hiện nay (2011) là ông Nguyễn Sinh Hùng.

Chủ tịch nước, theo hiến pháp là người đứng đầu Nhà nước, nguyên thủ quốc gia nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội bầu do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch nước có 12 quyền hạn theo Hiến pháp trong đó quan trọng nhất là: công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Quốc gia. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Tòa án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại, là chức vụ cao nhất trên danh nghĩa của Việt Nam nhưng thường không giữ kiêm chức Tổng bí thư Đảng (có trường hợp giữ kiêm) nên thường chỉ là một ủy viên BCHTƯ Đảng cấp dưới của Tổng bí thư, ngoài ra trên thực tế chủ tịch nước chỉ đóng vai trò nghi lễ còn Thủ tướng chính phủ mới nắm quyền hành thực sự và lớn hơn. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 5 năm. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Chủ tịch nước. Chủ tịch nước hiện nay (2011) là ông Trương Tấn Sang.

Hội trường Ba Đình

Chính phủ, theo hiến pháp là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ chịu sự giám sát và thực hiện chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ Chính phủ là 5 năm. Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương để Quốc hội bầu. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ hiện nay (2010) là ông Nguyễn Tấn Dũng.

Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người giúp việc cho Thủ tướng và được Thủ tướng ủy nhiệm khi Thủ tướng vắng mặt. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao. Việc tổ chức nhân sự cấp cao này đều thông qua Bộ Chính trị và các viên chức này đều do Bộ Chính trị quản lý. Các Thứ trưởng và chức vụ tương đương do Thủ tướng bổ nhiệm, nhưng Ban Bí thư thông qua và quản lý.

Chính phủ Việt Nam có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ. Ngoài ra chính phủ còn quản lý 5 cơ quan hành chính và 3 cơ quan truyền thông trực thuộc là Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam

Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Việt Nam. Chánh án Tối cao là người đứng đầu Tòa án Nhân dân Tối cao. Chánh án Tối cao hiện nay[khi nào?] là ông Trương Hòa Bình.

Quan hệ đối ngoại

Theo các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lậpphát triển“.

Từ sau thời kỳ đổi mới, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995

Hiện nay,[khi nào?] Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 171 quốc gia[23] thuộc tất cả các châu lục (Châu Á – Thái Bình Dương: 33, Châu Âu: 46, Châu Mĩ: 28, Châu Phi: 47, Trung Đông: 16), bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ. Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPAUPU.

Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện thông qua việc tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế tại thủ đô Hà Nội

Năm 1997, tổ chức hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ

Năm 1998, tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN

Năm 2003, tổ chức hội thảo quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và châu Phi

Năm 2004, tổ chức Hội nghị cấp cao ASEM vào tháng 10

Năm 2006, tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11.

Từ ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đây là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế.

Ngày 16 tháng 10 năm 2007, tại cuộc bỏ phiếu diễn ra ở phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Việt Nam chính thức được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009.

Ngày 1 tháng 1 năm 2010, Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN và trong năm đó đã tổ chức nhiều cuộc họp lớn của khu vực.

Kinh tế

Gạo – một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam

Từ ngàn năm nay, Việt Nam là một nước nông nghiệp. Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam năm 1994. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 20002002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn.[khi nào?]

Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng do tình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ cao của thế giới[24][25] cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường nên với con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USD năm 2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam và Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa. Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và chỉ bằng 6,7% so với Singapore[26]

Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau khi đã kết thúc đàm phán song phương với tất cả các nước có yêu cầu (trong đó có những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc). Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007.

Ngày 3 tháng 4 năm 2013, tại một hội thảo tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế của Việt Nam đã nhận định nền kinh tế Việt Nam đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007-2011, chỉ có 1 năm (2008) Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8%. Tuy xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD trong giai đoạn này nhưng mức tăng trưởng lại thấp hơn 5 năm trước khi gia nhập WTO. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60%, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là nông – lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng mạnh, 18 tỷ USD vào năm 2008. Kinh tế Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng bởi giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ 2007-2008 đến nay. Đến năm 2013, sau 7 năm hội nhập, tình hình kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều áp lực, từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.[27]

Về địa lý kinh tế, chính phủ Việt Nam phân chia và quy hoạch thành các vùng kinh tế-xã hội và các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam.

So sánh GDP-PPP giữa Việt Nam và các nước công nghiệp mới qua các năm 1980-2014

So sánh GDP-PPP bình quân đầu người giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á năm 2010
Một số dữ liệu 10 năm gần đây (2000-2010) – Nguồn: TCTK[28]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
GDP
(tỷ USD,
làm tròn
)
31 32 35 39 45 52 60 70 89 91 101
GDP/đầu người
(USD)
402 416 441 492 561 642 730 843 1052 1064 1168
Tỉ lệ tăng giảm GDP
(tăng giảm % so với năm trước)
6,8 6,9 7,1 7,3 7,8 8,4 8,2 8,5 6,2 5,3 6,7
Xuất khẩu
(tỷ USD,
làm tròn
)
14 15 16 20 26 32 39 48 62 57 71
Nhập khẩu
(tỷ USD,
làm tròn
)
15 16 19 25 31 36 44 62 80 69 84
Chênh lệch–nhập siêu
(tỷ USD,
làm tròn
)
-1 -1 -3 -5 -5 -4 -5 -14 -18 -12 -13
FDI-đăng ký
(tỷ USD,
làm tròn
)
2,8 3,1 2,9 3,1 4,5 6,8 12,0 21,3 71,7 23,1 18,6
FDI-thực hiện
(tỷ USD,
làm tròn
)
2,4 2,4 2,5 2,6 2,8 3,3 4,1 8,0 11,5 10 11
Chênh lệch đăng ký-thực hiện FDI
(tỷ USD,
làm tròn
)
-0,4 -0,7 -0,4 -0,5 -1,7 -3,5 -7,9 -13,3 -60,2 -13,1 -7,6
Kiều hối
(tỷ USD,
làm tròn
)
1,7 1,8 2,1 2,7 3,2 3,8 4,7 5,5 7,2 6,2 8,1
Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
(1000 tỷ VNĐ,
làm tròn
)
220 245 280 333 398 480 596 746 1009 1197 1561
Chỉ số giá tiêu dùng CPI
(tăng giảm % so với năm trước)
-0,6 0,8 4,0 3,0 9,5 8,4 6,6 12,6 19,9 6,5 11,7
Tăng giảm giá USD
(tăng giảm % so với năm trước)
3,4 3,8 2,1 2,2 0,4 0,9 1,0 -0,3 6,3 10,7 9,6
Tăng giảm giá Vàng
(tăng giảm % so với năm trước)
-1,7 5,0 19,4 26,6 11,7 11,3 27,2 27,3 6,8 64,3 30,0

Du lịch

Bài chi tiết: Du lịch Việt Nam

Bãi biển nhiều, một trong những điểm mạnh của Du lịch Việt Nam

Ngành du lịch và dịch vụ đã đóng góp tích cực vào nền kinh tế Việt Nam. Số lượng khách du lịch đến Việt Nam liên tục tăng nhanh trong vòng 10 năm kể từ 2000 – 2010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Đài Loan.[29]

Việt Nam có nhiều điểm du lịch đa dạng từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền núi tới đồng bằng, bãi biển, đảo. Từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử… Các điểm du lịch miền núi nổi tiếng như Sapa, Bà Nà, Đà Lạt. Các điểm du lịch ở đồng bằng như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh… Các điểm du lịch ở các bãi biển như Hạ Long, Nha Trang,Phan Thiết, Vũng Tàu và các đảo như Cát Bà, Cù lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc,…

Khẩu hiệu ngành du lịch Việt Nam:

  • 2001-2004: Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới
    Vietnam – A destination for the new mellennium
  • 2004-2005: Hãy đến với Việt Nam
    Welcome to Vietnam
  • 2006-2009: Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn
    Vietnam – The hidden charm
  • 2010-nay: Việt Nam – Sự khác biệt Á Đông
    Vietnam – A Different Orient
Khách và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua 10 năm gần đây (2000-2010) – Nguồn: TCTK[28]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượt khách đến Việt Nam (triệu người, làm tròn) 2.1 2.3 2.6 2.4 2.9 3.4 3.5 4.2 4.2 3.7 5.0
Lượt khách đến Việt Nam du lịch(triệu người, làm tròn) 1.1 1.2 1.4 1.2 1.5 2.0 2.0 2.6 2.6 2.2 3.1

Xã hội

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục Việt Nam

Đại Học Bách Khoa Hà Nội(C1)

Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục. Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục ngày càng tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[30]

Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang cố gắng hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên Thế giới. Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường Đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà NộiTP.Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố ngày 3/12/2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[31]

Về nền giáo dục bậc đại học, hiện nay Việt Nam có tổng số 376 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, trong đó bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54 trường, các Bộ, ngành khác quản lý 116 trường.Các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản của 125 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long (hiện nay là Trường Đại học Thăng Long) như một mô hình giáo dục đại học mới, đánh dấu sự ra đời của trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam. Tính đến hiện nay toàn Việt Nam có 81 trường dân lập, tư thục. Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng 1.700.000 người, số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000 người/kỳ thi. Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước.[32] Nhưng nhà nước Việt Nam đang tích cực cải cách hệ thống giáo dục đại học bằng việc trao thêm quyền cho các trường đại học. Điều 32 Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 quy định “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.“. Điều 36 luật này cũng quy định “Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, duyệt giáo trình giáo dục đại học để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập trong cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập.“, tuy nhiên “Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị, quốc phòng – an ninh để làm tài liệu giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đại học“.[33] Các lãnh đạo hàng đầu của Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ tự chủ đại học và yêu cầu thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này.[34] Tuy nhiên có ý kiến cho rằng các trường đại học Việt Nam chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng cho việc tự chủ[35][36], các điều khoản trong Luật Giáo dục Đại học cho thấy quyền tự chủ của các trường đại học khó có thể trở thành hiện thực vì có quá nhiều điểm hoàn toàn trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi.[37]

Từ năm 2000-2007, nhiều học sinh Việt Nam đã đi du học ở các nước phát triển như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Đức, Nhật… Riêng năm 2007 đã có 39.700 học sinh đi du học [38]

Y tế

Một bệnh viện tại TP.Hồ Chí Minh

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010 trên toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[39] với tổng số giường bệnh khoảng 246.300 giường.[40] Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện Nhà nước[41][42]

Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia, tuy nhiên sự phát triển chưa đồng đều ở mỗi cấp, vùng, miền. Việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ người dân chưa đảm bảo[43]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học Y, Dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩdược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại[41]

Ngành Y tế hiện tại của Việt Nam đang được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010 Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tỷ USD, các dự án được phân bố ở đều khắp các vùng miền[44]

Tuy là một ngành thiết yếu đối với đời sống dân chúng, nhận được nhiều sự đầu tư từ ngân sách của nhà nước Việt Nam cũng như các tổ chức nước ngoài, nhưng những năm gần đây bị đánh giá là bị tham nhũng ở nhiều cấp độ, có tính chất nghiêm trọng, được tìm thấy trong cả 3 lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế[45]

Giao thông

Cầu Mỹ Thuận trên quốc lộ 1A

Do đặc thù của địa lý Việt Nam, nên các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắcnam, riêng các tuyến giao thông nội thủy thì chủ yếu theo hướng đôngtây dựa theo các con sông lớn đều đổ từ hướng tây ra biển.

Việt Nam có hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ… có tổng chiều dài khoảng 222.000km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tông hóa, chỉ có một số ít các tuyến đường huyện lộ tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa đang còn là các con đường đất.

Việt Nam có 3.360 km đường bờ biển. Dự kiến quy hoạch chi tiết tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai là tuyến đường bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Mũi Ngọc (xã Bình Ngọc, Móng Cái, Quảng Ninh) tới cửa khẩu Hà Tiên (thị xã Hà Tiên, Kiên Giang) với chiều dài khoảng 3.041 km

Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài 2652 km, trong đó tuyến đường chính Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam. Ngoài ra còn có các tuyến đường sắt ngắn từ Hà Nội đi Hải Phòng (hướng đông), Lạng Sơn (hướng bắc), Lào Cai (hướng tây bắc)

Hệ thống đường hàng không Việt Nam gồm các sân bay quốc tế có các tuyến bay đi các nước và các sân bay nội địa trải đều ở khắp ba miền, 3 sân bay quốc tế hiện đang khai thác là Tân Sơn Nhất (TP.Hồ Chí Minh), sân bay Đà Nẵng (Đà Nẵng) và Nội Bài (Hà Nội), và các sân bay dự kiến khai thác đường bay quốc tế trong thời gian tới là Cam Ranh (Khánh Hòa), Cát Bi (Hải Phòng) và Phú Bài (Thừa Thiên Huế).

Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển lớn ở 3 miền như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân (miền Bắc), cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn (miền Trung) và cảng Sài Gòn, cảng Thị Vải (miền Nam). Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đôngtây dựa theo các con sông lớn như sông Đà, sông Hồng (miền Bắc), sông Tiền, sông Hậu (miền tây nam bộ), và sông Đồng Nai, sông Sài Gòn (miền đông nam bộ) chảy theo hướng bắcnam.

Tăng giảm luân chuyển hành khách qua 10 năm gần đây (2000-2010) – Nguồn:TCTK[28]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Đường bộ (tăng giảm % so với năm trước) 5.2 4.6 9.4 19.0 12.5 12.7 12.9 13.3 9.8 10.2 12.5
Đường sắt (tăng giảm % so với năm trước) 17.6 7.1 7.9 10.1 7.6 4.3 -5.0 7.5 -2.1 -9.3 8.1
Đường thuỷ (tăng giảm % so với năm trước) 1.8 7.3 9.8 -7.4 15.3 7.9 -6.4 -1.2 3.0 5.4 4.1
Đường hàng không (tăng giảm % so với năm trước) 8.4 39.4 16.2 0.1 31.7 18.8 15.2 14.6 10.0 2.2 30.8

Truyền thông

Truyền thông Việt Nam hiện có đủ bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hìnhbáo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời.

Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 67 đài phát thanh – truyền hình, gồm 3 đài phát thanh truyền hình trung ương (VTV, VTC, VOV) và 64 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.[46]

Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo luật pháp Việt Nam, hiện nay[khi nào?] chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.

Tội phạm và tệ nạn

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức rất thấp so với các nước có cùng trình độ phát triển, thậm chí là thấp hơn so với nhiều quốc gia phát triển.[47] Các băng nhóm tội phạm có tổ chức như Năm Cam, Khánh Trắng… là khá hiếm, quy mô và độ tinh vi cũng còn xa mới sánh được với các tổ chức Mafia quốc tế.

Tuy nhiên, Việt Nam là địa điểm thuận lợi cho những đầu dây tội phạm trong và ngoài nước lộng hành để lợi dụng cho mục đích cá nhân đặc biệt là các đầu dây mại dâm, ma túy.[48] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy khét tiếng như Tam giác vàngTrăng lưỡi liềm vàng. Theo nhiều nhà quan chức trách nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp do đó càng phải đề cao cảnh giác và nâng cao tinh thần trách nhiệm chống ma túy của quần chúng và đồng thời đẩy mảnh sự hợp tác phòng chống ma túy quốc tế.[48] Gần đây Việt Nam cũng tham gia các hội nghị quốc tế để bàn thảo về các vấn đề trên như “Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông” (IDEC FEWG) do Việt Nam chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lận cận. Theo thống kê thì tính tới cuối năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[48]

Các tệ nạn phổ biến nhất bao gồm cờ bạc, cá độ, sử dụng và buôn bán ma túy, mại dâm… Do sự phát triển mạnh của quá trình phát triển kinh tế – xã hội khiến cho tình hình tội phạm có xu hướng tăng cao, do đó Chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng hạn chế các loại tệ nạn đảm bảo an ninh, trật tự cho người dân. Việt Nam là một nước rất phổ biến về hoạt động thể dục thể thao trong đó bóng đá là phổ biến có nhiều người tham gia và hâm mộ nhiều nhất, do đó các tệ nạn liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá.[49] Hiện nay,[khi nào?] trong quá trình hội nhập trong nhiều lĩnh vực với thế giới, các cơ quan nhà nước và các tổ chức cá nhân đầu tư cho thể thao Việt Nam vẫn đang cố gắng hoàn thiện tổ chức và quản lí cho bóng đá nói riêng và cả nền thể dục thể thao nước nhà nói chung.

Thể thao

Môn thể thao truyền thống thịnh hành từ ngàn đời này ở Việt Nam là võ thuật.[50] Ngoài võ thuật, những môn mang tính cổ truyền khác như đá cầu, cầu mây hay cờ tướng đều được nhiều người yêu thích. Trong khi hiện tại thì môn bóng đá được nhiều người chơi và xem nhất.[51] Bóng đá được nhiều người Việt Nam hâm mộ tới mức báo chí nước ngoài ví gần như là một thứ “tôn giáo” với người dân. Mỗi thành công hay thất bại của đội tuyển bóng đá quốc gia hay U23 Việt Nam, diễn biến của các giải đấu lớn cấp Quốc gia như World Cup, Euro hay cấp câu lạc bộ như UEFA Champions League, Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, và các giải quốc nội khác ở Châu Âu… đều được dư luận đặc biệt quan tâm.

Những năm gần đây, tennis cũng bắt đầu phổ biến ở các thành phố lớn. Ngoài ra, một số môn thể thao khác cũng đã thịnh hành từ rất lâu ở Việt Nam như cầu lông, bóng chuyền, bóng bàn, billiards snookercờ vua. Đoàn thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay.[52]

Các ngày lễ chính

Ngày tháng Số ngày Tên Ghi chú
1 tháng 1 1 Tết Dương Lịch
30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 1 5 Tết Nguyên Đán Âm lịch
10 tháng 3 1 Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương Âm lịch
30 tháng 4 1 Ngày Thống nhất đất nước
1 tháng 5 1 Ngày Quốc tế Lao động
2 tháng 9 1 Quốc khánh

Xếp hạng quốc tế

Tổ chức Nghiên cứu Xếp hạng
Viện Kinh tế và Hoà bình IEP Chỉ số hòa bình toàn cầu 45 trên 162[53]
Heritage Foundation/The Wall Street Journal Chỉ số tự do kinh tế 148 trên 178[54]
The Economist Chỉ số chất lượng cuộc sống, 2005 61 trên 111
Phóng viên không biên giới Chỉ số tự do báo chí toàn cầu 174 trên 180[55]
Tổ chức Minh bạch Quốc tế Chỉ số nhận thức tham nhũng 119 trên 175[56]
Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc Chỉ số Phát triển Con người 121[57]
Diễn đàn Kinh tế thế giới Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 65 trên 142[58]
ETH Zürich Chỉ số toàn cầu hóa 126 trên 208[59]
Diễn đàn Kinh tế thế giới Chỉ số bất bình đẳng nam nữ
(Global Gender Gap Report)
72 trên 134[60]
IFPRI Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) 3 trên 81[61]
Đại học Yale & Đại học Columbia Chỉ số hiệu suất môi trường 136[62]

Chú thích

  1. ^ Thành phố (Việt Nam)#Các thị xã đang đề nghị được nâng cấp lên Thành phố thuộc tỉnh
  2. ^ a ă Bộ Ngoại giao. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam” (bằng Tiếng Việt). Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 14/10/2009. Truy cập 19/3/2012.
  3. ^ a ă Vietnam – Geography. Index Mundi. ngày 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011.
  4. ^ “Thông cáo báo chí”. GSO. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2014.
  5. ^ “2013 Human Development Index and its components – Statistics” (PDF). UNDP. 2013. Bản gốc lưu trữ 23/04/2013. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2013.
  6. ^ Tầm quan trọng của đảo và quần đảo ở Việt Nam Ts Trần Nam Tiến, báo Tuổi Trẻ cập nhật 27/08/2012 11:39 (GMT + 7)
  7. ^ a ă “Vietnam’s new-look economy”. BBC News. Ngày 18 tháng 10 năm 2004.
  8. ^ Một số thông tin cơ bản về Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.. Bộ Ngoại giao Việt Nam. tr. Trang 25.
  9. ^ Weisenthal, Joe (ngày 22 tháng 2 năm 2011). “3G Countries”. Businessinsider.com. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011.
  10. ^ “Vietnam Inequality Report”. Mekong Economics. 2005. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010.
  11. ^ “Distribution of Family Income – Gini Index”. CIA World Factbook, 2008 data. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011.
  12. ^ “ScienceDirect – Journal of Econometrics: On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam”. Sciencedirect.com. Ngày 12 tháng 9 năm 2002. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011.
  13. ^ doi: 10.2307/2761129
    Hoàn thành chú thích này
  14. ^ Gallup, John Luke (2002). “The wage labor market and inequality in Viet Nam in the 1990s”. Ideas.repec.org. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010.
  15. ^ Đại Việt Sử ký Ngoại kỷ Toàn thư
  16. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Phần ngoại kỷ
  17. ^ Việt Sử lược, khuyết danh – Trần Quốc Vượng dịch
  18. ^ “Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO” (Thông cáo báo chí). Xuân Danh, Báo Thanh niên. 11 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
  19. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  20. ^ The World Factbook
  21. ^ BÁO CÁO KẾT QUẢ CHÍNH THỨC Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 7/2010
  22. ^ Đa số đại biểu trúng cử Quốc hội là Đảng viên VOA Thứ Ba, 29 tháng 5 2007
  23. ^ theo trang web chính thức của nước CHXHCN Việt Nam Các nước có quan hệ Ngoại giao-Kinh tế với Việt Nam, truy cập 9/12/2011
  24. ^ “Tham nhũng trong mắt người dân đô thị VN” (Thông cáo báo chí). BBC. 12:37 GMT – thứ năm, 16 tháng 12, 2010. Bản gốc lưu trữ 18/12/2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
  25. ^ “Việt Nam tham nhũng thứ ba châu Á?” (Thông cáo báo chí). BBC. 15:43 GMT – thứ hai, 8 tháng 3, 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
  26. ^ GDP per capita, PPP (current international $) cập nhật 14/4/2015, truy cập 20/4/2015
  27. ^ “Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO” (Thông cáo báo chí). VnExpress. 18:20 GMT – thứ Tư, 3 tháng 4, 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  28. ^ a ă â Niên giám các năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, Tổng cục Thống kê
  29. ^ “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập 1 tháng 12 năm 2014.
  30. ^ Niên giám Thống kê 2013, Trung tâm Tư liệu Thống kê – Tổng Cục Thống kê Việt Nam
  31. ^ Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học, Báo điện tử Dân trí, 04/12/2013
  32. ^ VnExpress – 30 năm chất lượng giáo dục đại học bị ‘bỏ ngỏ’ – 30 nam chat luong giao duc dai hoc bi ‘bo ngo’ Tiến Dũng, Thứ sáu, 30/10/2009 | 09:11 GMT+7
  33. ^ LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
  34. ^ Thủ tướng thúc nhanh việc trao tự chủ đại học, Báo VietNamNet, 26/08/2014
  35. ^ Thiếu sẵn sàng tự chủ ĐH, Tuổi Trẻ Online, 01/08/2014
  36. ^ Tự chủ đại học – cái nhìn từ nhiều phía, Tuổi Trẻ Online, 08/01/2013
  37. ^ Tự chủ đại học ở Việt Nam: Thiếu thực chất, Vũ Thị Phương Anh, Tạp chí Tia Sáng, 22/08/2014
  38. ^ Muôn nẻo đường du học Cập nhật: Thứ ba, 04-03-2008 theo giaoduc.edu.vn
  39. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập 19/3/2012.
  40. ^ “Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập 19/3/2012.
  41. ^ a ă Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui Thái Bình, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống cập nhật 1/9, 2014 | 06:00
  42. ^ PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TRONG CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM 01/03/2010 10:31:40 AM ghi lại Bài phát biểu của TS. Nguyễn Quốc Triệu – Bộ trưởng Bộ Y tế tại Phủ Chủ tịch nhân Lễ kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam chiều 24/02/2010
  43. ^ VOVNEWS.VN | Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy – Nganh Y te 55 nam lam theo loi Bac day Văn Hải hứ 7, 16:30, 27/02/2010
  44. ^ www.cpv.org.vn – Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ
  45. ^ Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng – Tuổi Trẻ Online Minh Quang 26/11/2009 22:48 GMT+7
  46. ^ “Vì sao cần tăng cường quản lý báo điện tử?” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Công Dũng, Tạp chí Cộng sản. 15:7′ 7/7/2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
  47. ^ Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel | Tuổi Trẻ news cập nhật 10/21/2012 14:08 GMT + 7
  48. ^ a ă â “Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm “nóng” tội phạm ma túy – Pháp luật – Dân trí”. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  49. ^ “Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài – VnExpress”. VnExpress. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  50. ^ “Binh Dinh to host Int’l Vovinam festival”. TalkVietnam.com. Ngày 6 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  51. ^ “Soccer is very popular in Vietnam”. SaigonNezumi.com. Ngày 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  52. ^ “BBC Vietnamese – Thể thao – TQ hay Mỹ sẽ đứng đầu bảng Olympic?”. BBC Online. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  53. ^ Vision of Humanity
  54. ^ Country Rankings, truy cập 11/4/2015
  55. ^ “World Press Freedom Index 2014. Trang 31” (Thông cáo báo chí). Phóng viên không biên giới. Truy cập 20/4/2015.
  56. ^ “CORRUPTION PERCEPTIONS INDEX 2014” (Thông cáo báo chí). Tổ chức Minh bạch Quốc tế. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2015.
  57. ^ Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. “Human Development Indicators” (bằng Tiếng Anh). Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014.
  58. ^ “The Global Competitiveness Index 2011-2012 rankings” (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
  59. ^ “2013 KOF Index of Globalization (Rankings are based on data for the year 2010 – Xếp hạng dựa trên dữ liệu năm 2010)” (Thông cáo báo chí). KOF. 2013.
  60. ^ “The Global Gender Gap Report 2010” (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
  61. ^ “2011 Global Hunger Index” (Thông cáo báo chí). IFPRI. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011.
  62. ^ “Country Profile: Viet Nam” (Thông cáo báo chí). EPI. 2014. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014.

Tài liệu tham khảo

  • Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch, Nhà xuất bản Hà Nội 2007
  • Herring, George C. America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (4th ed 2001), most widely used short history. ISBN 978-0072536188
  • Jahn GC. 2006. The Dream is not yet over. In: P. Fredenburg P, Hill B, editors. Sharing rice for peace and prosperity in the Greater Mekong Subregion. Victoria, (Australia): Sid Harta Publishers. p 237-240
  • Karrnow, Stanley. Vietnam: A History. Penguin (Non-Classics); 2nd edition (ngày 1 tháng 6 năm 1997). ISBN 0-14-026547-3
  • McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook ISBN 9780618749379
  • Tucker, Spencer. ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1998) 3 vol. reference set; also one-volume abridgment (2001) ISBN 1851099611
  • Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 9th edition, Oxford University Press.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Nhà nước Việt Nam
Thông tin chung
Truyền thông
Cơ quan truyền thông thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam
Cơ quan truyền thông thuộc Chính phủ Việt Nam
Cơ quan truyền thông của các tổ chức nhà nước khác

Những cơ quan truyền thông này được hoạt động độc lập hơn các cơ quan truyền thông nêu phía trên.

Khác

Nguồn: Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt

Video yêu thích


Vietnam Travel and Tourism

Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook